nguyễn bỉnh khiêm tiên tri về bác hồ
Nằm trong khu đô thị Ciputra, Dự án Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm-Tây Hồ được xây dựng trên khu đất rộng 1,4 ha, với diện tích sàn xây dựng 37.919 m2, 6 tầng nổi, 1 tầng hầm. Với tổng mức đầu tư hơn 800 tỷ đồng, Trường có 100 phòng học, 35 phòng học bộ môn, khối hành chính, khối thực hành các bộ môn định hướng nghề nghiệp, và các khu chức năng.
LỄ KẾT NẠP ĐỘI VIÊN LẦN 1, NĂM HỌC 2014 - 2015. Các bạn thân mến, sau 1 thời gian sinh hoạt Sao nhi đồng và Đối tượng đội, đến ngày 9/1/2015, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Hội Sinh viên Việt Nam. Liên đội Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tổ chức cho 209 bạn đội viên
Tháng 3-2019, bà Thảo cùng gia đình vào cư trú tại nhà số 29 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Việc bà Thảo vào ở trong căn nhà xuất phát tự sự thỏa thuận và có sự đồng ý của bà Chi. Cơ quan điều tra có căn cứ xác định căn nhà số 29 Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỗ ở của gia đình bà
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. Ngày đăng 23/10/2017, 1545 Sau khi Trạng mất, ở làng Cổ Am có lập đền thờ. Một hôm ở trong làng có cha con thằng Khả đi bắt chuột ở bên ngôi mộ cụ vô ý làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng thấy thế mới bắt về đình phạt ba quan tiền vì khi tấm bia đổ xuống thấy có hàng chữ ở sauCha con thằng KhảĐánh ngã bia taoLàng xóm xôn xaoBắt đền tam quanCha con thằng Khả chạy đi kiếm mãi cũng chỉ được có một quan tám nhưng dân làng không chịu. Nó cãi rằngCha con tôi lỡ lầm nên cụ Trạng chê bắt phạt có quan tám. Cụ đã biết trước cha con tôi chỉ chạy được có như thế nên mới nói bắt đền tam quán mà nói lái thì thành quan tám chứ không phải ba quan. Ai đời nếu không thế sao cả bài không có chữ Nho nào nên mới dùng hai chữ Nôm nói lái mà ra. Dân làng không tin hãy cứ xin âm dương trong đền cụ mà túng thế, cha con thằng Khả cãi liều như vậy nhưng dân làng nghe cũng có lý mới đi lễ dền cụ xin âm dương thì quả như vậy thật. Cứ xin hoài ba quan mà hai đồng tiền vẫn cứ khi thì xấp cả, khi thì ngửa tới khi khấn là quan tám mới dược đồng xấp, đồng ngửa mà thôi. Mọi người lại càng tin phục cụ Trạng. Nguyễn bỉnh Khiêm Câu chuyện Nguyễn Bỉnh Khiêm lời tiên tri ông Giai Thoại Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngày xưa, đời Hồng Đức nhà Lê, làng Trung An huyện Vĩnh Lại Hải Dương có nhà nho sĩ Văn Định kết duyên quan thượng Nhữ Văn Lan Tiểu thư họ Nhữ nhan sắc tuyệt vời, thông minh xuất chúng, giỏi văn chương, tinh tướng số, kén chồng đến hai mươi tuổi, thấy Văn Định có tướng sinh quý tử nhận lời trao hôn Hai người lấy sinh trai mặt mũi tinh anh, đặt tên Bỉnh Khiêm, chưa đầy tuổi biết nói Được mẹ dạy bảo, lên bốn tuổi Bỉnh Khiêm thông kinh truyện, học đến đâu thuộc lòng đến đó, nhớ đọc lúc chục thơ nôm Khi tóc để trái đào, hôm Bỉnh Khiêm bọn trẻ tắm bến Hàn, có kể thuật sĩ thuyền trông thấy nói rằng "Cậu bé có tướng làm vua, tiếc da thịt dày quá, làm đến Trạng nguyên, Tể tướng cùng"! Mồ côi sớm, Bỉnh Khiêm tay hiệp khách giang hồ tên Lý Hưng Chi nhận làm nuôi giao cho người bạn trụ trì đem dạy dỗ chùa Lớn lên, Bỉnh Khiêm theo học ông Bảng nhỡn Lương Đắc Bằng Thanh Hóa Lương tiên sinh hồi sang sứ nhà Minh, gặp người họ ngụ cư bên Tàu Lương Nhữ Hốt có tặng cho Thái Ất thần kinh, đem học tập tinh lý số, tiên tri Bỉnh Khiêm thày truyền lại phép thuật tinh vi, cụ Lương trao cho kinh Thái Ất, tác phẩm đạo sĩ Triệu Nga đời Tống thế kỷ thứ X Bấy nước biến loạn, Bỉnh Khiêm ẩn, lấy việc ngao du sơn thủy làm thú đời Ông lên chơi chùa Bội Sơn, gặp lại nhà sư dạy dỗ thuở bé cầm đầu đảng cướp Hồng Nhật Các tham quan ô lại nhà giàu độc ác bị đảng cướp trừ diệt, lấy để giúp cho người nghèo khó Quan phủ Vương Liêu Thăng kẻ sâu dân mọt nước bị Lý Hưng Chi tay hạ sát, triều đình treo giải thưởng lớn cho lấy đầu họ Lý Bị tập nã riết, Lý Hưng Chi tìm đường trốn sang Tàu, đem theo Nguyễn Bỉnh Khiêm vài hạ tâm phúc Vượt núi, băng rừng nhiều ngày, đến giáp giới Trung Quốc, Lý Hưng Chi ghé lại trại người bạn cũ, vùng núi non với hai ngàn thủ hạ Chủ trại Hoàng Mưu vợ sớm, có người gái đến tuổi lấy chồng, thấy Bỉnh Khiêm người lỗi lạc, ngỏ ý với Lý Hưng Chi muốn gả cho Đính hôn sau, Lý Hưng Chi Bỉnh Khiêm đám tùy tùng nhờ Hoàng Mưu giúp vượt qua biên giới Tiến vào nội địa Trung Hoa, đường họ gặp toán cướp lớn chặn đánh, có Lý Hưng Chi thoát được, Bỉnh Khiêm đám người theo bị bắt Tướng cướp Lý Lăng Tử tra hỏi, thấy Bỉnh Khiêm người thông thái, giỏi lý số, tiên tri, giữ lại tôn làm quân sư Trại núi kỳ vĩ, chung quanh có nhiều dãy núi cao bao bọc thành lũy thiên nhiên Bỉnh Khiêm miễn cưỡng phải lại đây, suốt ngày đọc sách ngâm thơ Một hôm, có ông già ăn mặc nâu sồng, đeo khăn gói đỏ, tay chống gậy trúc lần mò đến cổng trại Bị quân canh đuổi đi, ông già trở đi, trở lại đến lần thứ ba, nằn nì đòi xin gặp chủ trại Bỉnh Khiêm dạo, trông thấy ông già cốt cách khác thường, gọi hỏi chuyện ông ta nói "Tôi kẻ ngao du sơn thủy, khảo sát địa lý để tìm nơi gửi nắm xương tàn, đến chốn thấy có khí lạ, dừng bước lại" Rồi ông già ngắm Bỉnh Khiêm mà bảo rằng "Tôi đoán ông người vùng này, mà thượng khách chủ trại Nhưng chốn bị quân triều đình đến đánh mai" Hỏi thêm, ông già không nói, bảo có biết lý số, thiên văn, năm trời tìm sách để thông suốt khứ vị lai mà chưa gặp Bỉnh Khiêm tò mò hỏi "Cụ bảo sách mà thần diệu thế"? Ông già đáp "Đó sách thần, có đủ phép tắc dạy cho biết rõ việc khứ, tương lai Quyển sách trước tay thày dạy qua đời, tặng cho người dòng họ làm sứ thần nước Việt, nghe ông trao lại cho môn đệ Đó kinh lấy tên Thái Ất Nhưng biết vị sứ thần môn đệ ông ta dùng sách ấy, toàn câu kinh kỳ bí, mà họ lời giải Tôi có lời giải mà kinh Thái Ất" Bỉnh Khiêm hỏi tới "Sao thày dạy cụ lại truyền cho cụ biết lời giải mà không cho cụ sách"? Ông già đáp "Theo lệ cổ truyền không giữ kinh lâu đời Sứ thần Việt kinh, phần giải Khi thày dạy mất, có trao phần giải cho mà không dặn rõ phải công hai năm tìm kinh Tôi tính đến hôm vừa hai năm" Bỉnh Khiêm vội lấy hành lý sách bọc vải điều trao tận tay ông già Vừa lật xem qua trang, ông già không giấu nỗi ngạc nhiên sung sướng, trang trọng đặt sách lên trước mặt sụp lạy Cả hai người tuổi tác cao thấp chênh lệch, làm lễ đồng môn với nhau, bắt đầu trao đổi nghiên cứu kinh Thái Ất Trong vòng bảy hôm, họ thuộc lòng kinh lời giải đáp, vội vã chia tay, sợ xúc phạm đến thiên cơ, hai thành tiên tri, thấu suốt khứ, tương lai Ông già tức Hoàng Thạch Lâm phương bắc, Nguyễn Bỉnh Khiêm phía nam Trở nước, gặp lúc nhà Mạc ngôi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Trạng nguyen, vua phong làm Đông đại học sĩ Làm quan tám năm ông dâng sớ xin chém đầu mười tám tên nịnh thần, vua Mạc không nghe, ông cáo bệnh từ quan Khi ông trí sĩ, dựng nhà chơi mát làng gọi am Bạch Vân, lại làm quán bên sông Tuyết Giang, dựng bia ký Lúc bơi thuyền chơi bể Kim Hải bể Úc Hải, lúc vài nhà sư dạo chơi núi An Tử, núi Ngọc Vân núi Đồ Sơn Đi đến đâu làm thơ ngâm vịnh, gặp chỗ phong cảnh đẹp dừng lại, thường ngày không để ý đến việc đời, sống nhàn tản theo chủ trương Lão, Trang Triều Mạc quý trọng, lấy lễ sư phó đãi ông, có việc sai sứ tìm đến hỏi ý kiến mời kinh để thương nghị trọng yếu Vua Mạc phong ông làm Thái phó Trình Quốc công Người đương thời gọi ông Trạng Trình Học trò Trạng Trình tác thành nhiều, danh có Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử Lúc nhà Lê bắt đầu trung hưng, vua Mạc ngự giá đến nhà ông hỏi kế công thủ, Trạng Trình bảo rằng "Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng nhỏ, giữ phúc đến vài đời" Sau bảy năm, nhà Mạc mất, lui giữ đất Cao Bằng, nhiên truyền ba đời, bảy mươi năm tuyệt Khi vua Lê Trung Tông mất, kế vị, Trịnh Kiểm cầm quyền, sai Phùng Khắc Khoan đến hỏi ý kiến ông, ông không nói gì, quay lại bảo người nhà rằng "Năm mùa, nên tìm giống cũ mà gieo mạ" Phùng Khắc Khoan nói lại, Trịnh Kiểm hiểu ý ông, tìm Lê Duy Bang dòng nhà Lê về, lập lên làm vua Một lần Trịnh Tùng có ý chiếm vua, sai sứ đến hỏi ông, ông không nói gì, đưa chơi chùa núi, bảo tiểu rằng "Giữ chùa thờ Phật có oản ăn" Sứ giả nói lạị Trịnh Tùng biết ý ông khuyên phải giữ đạo làm hưởng phúc, nên manh tâm bội nghịch Vào lúc Trịnh Kiểm có ý hại Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn lấy làm lo, mật sai người cầu ông bày cho kế lánh họa Ông chống gậy chơi vườn cảnh, có dãy đá xếp lại làm non quanh co đến trước sân, có đàn kiến đương bò đá, ông đưa mắt nhìn theo đàn kiến mà nói rằng "Một dải núi Hoành Sơn nương thân đến muôn đời" Người sứ thưa lại, chúa Nguyễn tâm xin vào trấn thủ xứ Thuận, Quảng miền Hoành Sơn, nhiên ngày thịnh, dựng nên nghiệp nhà Nguyễn lâu dài Trạng Trình tinh thuật số, đoán trước nhiều việc đúng, để lại số sấm ký sau, người ta truyền ứng nghiệm Trước mất, ông có viết tờ chúc thư gửi cho viên tri huyện vùng ông đời sau, có câu "Tôi cứu cho ông khỏi chết sà nhà đổ, ông cứu cho cháu nghèo khổ" Ông trao cho cháu thư dặn đến ngày tháng ấy, mang đến đưa cho quan huyện, nhớ gọi khỏi công đường mà trao Quả nhiên ngày nói trên, viên tri huyện nghe có cháu ông Trạng Trình đến kiếm, bước tiếp, vừa khỏi cột sà ngang lớn bị mọt đục gãy rơi chỗ ghế ngồi Thoát chết, ông huyện xem thư hết lòng cảm phục, liền đưa cháu ông Trạng Trình nhà hết lòng nuôi cho ăn học Trạng Trình để lại cho đời trăm thơ nôm gọi Bạch Vân Am thi tập, sống đến 95 tuổi Những sấm ký ông truyền lại, người đời sau đem việc xảy để đối chiếu, giải thích gần đây, chứng nhận Cha thằng Khả Sau Trạng mất, làng Cổ Am có lập đền thờ Một hôm làng có cha thằng Khả bắt chuột bên mộ cụ vô ý làm đổ bia mộ Dân làng thấy bắt đình phạt ba quan tiền bia đổ xuống thấy có hàng chữ sau Cha thằng Khả Đánh ngã bia tao Làng xóm xôn xao Bắt đền tam quan Cha thằng Khả chạy kiếm có quan tám dân làng không chịu Nó cãi rằng "Cha lỡ lầm nên cụ Trạng chê bắt phạt có quan tám Cụ biết trước cha chạy có nên nói bắt đền tam quán "Tam quán" mà nói lái thành quan tám ba quan Ai đời không chữ Nho nên dùng hai chữ Nôm nói lái mà Dân làng không tin xin âm dương đền cụ mà xem" Vì túng thế, cha thằng Khả cãi liều dân làng nghe có lý lễ dền cụ xin âm dương thật Cứ xin hoài ba quan mà hai đồng tiền xấp cả, ngửa Chỉ tới khấn quan tám dược đồng xấp, đồng ngửa mà Mọi người lại tin phục cụ Trạng Thánh nhân mắt mù Khi chết, Trạng có ghi vào gia phả dặn cháu rằng - "Bình sinh ta có bia đá sẵn sơn Khi ta nhắm mắt rồi, chúng bay phải nhớ hạ quan tài xuống phải để bia đá lên nắp lấp đất sau Hễ có người lạ đến viếng mộ ta mà nói "Thánh nhân mắt mờ" mời người nhà, yêu cầu họ để hướng lại mộ cho ta Chúng bay phải nhớ canh chừng , không dược cải cát Nếu trái lời ta, dòng dõi sau suy đồi lụn bại" Con cháu nghe lời, làm y cách dặn Cách 50 năm sau, hôm có người Tàu đến nhìn mộ cụ lúc nói rằng Cái huyệt đằng chân sờ sờ mà lại tự dem để mả Vậy mà thánh nhân đâu, Thánh nhân mắt mù Người họ nghe được, chạy cho ông trưởng lộc hay Ông vội vàng đón người Tàu nhà, xin để xoay mộ lại Khi tiếp truyện, hay người nhà phong thủy trứ danh Trung Quốc vừa sang ông ta lại muốn xem di tích cụ Trạng, lâu ông ta nghe tiếng đồn Trạng Khi nghe nói, ông ta sẵn lòng sửa lại mộ cho, hiu hiu tự dắc cho giỏi Trạng Trình "Với cụ Trạng thực nghe người ta đồn đến nơi thực mục sở thị, có giỏi dâu" Ông ta bảo - Không cần phải đem đâu xa cả, đào lên xoay lại nhích chút Ông tộc trưởng mừng, tụ họp cháu lại đưa thầy dịa lý Tàu dể lại mộ Khi đào đến bia đá, ông thầy Tàu thấy làm lạ, lại sẵn tính hiếu kỳ, ông bảo đem rửa xem có đó, lớp sơn mục Con cháu cụ tôn trọng thầy nên phải chiều lòng Khi bia rửa đem lên, thấy câu thơ sau ra Ngũ thập niên tiền mạch đầu, Ngũ thập niên hậu mạch qui túc, Hậu sinh nhĩ bối ná tri? Hà vị thánh nhân vô nhĩ mục? Có nghĩa là Ngày mạch lộn xuống chân, Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu Biết gì, kẻ sinh sau? Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ? Khi xem tới thơ dây, ông thầy Tàu lúc phục Trạng vị Thánh thật, tiên tri thật, không biết trước lời nói Quả thật xứng dáng học trò cụ mà Cây sà nhà đổ Cũng mất, Trạng có giao cho cháu ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu dặn đến năm tháng ấy, ngày ấy, phải để ống vào kiệu rước lên dinh tổng dốc Hải Dương, trao ống cho quan cứu vãn tình gia đình tuyệt đối không mở xem , trừ quan tổng đốc Cái ông tre truyền đến người cháu đời cụ, rước lên dinh quan tổng đốc, vào ngày ghi gia phả Khi quan mở ống, thấy cuộn giấy, ngài rút xem thấy có hai câu chữ nho Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách, Nhĩ cứu ngã thất chi bần Nghĩa là Ta cứu mày khỏi sà nhà đỏ, Mày cứu ta cháu bảy đời nghèo Ngựa đá sang sông Nguyên Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sống làng Vĩnh Lại, tiếng có tài học rộng hiểu nhiều, tiên đoán nhiều cho thí sinh ứng thí khoa thi làng lân cận thành danh, riêng nơi ông sống Vĩnh Lại chẳng thành quan Trong ghen tị từ sống nghèo khổ, dân làng Vĩnh Lại cho Trạng trình không ý đến người nhà Một ngày nọ, trạng Trình cho người dựng tượng ngựa đá bên dòng sông, viết lên câu thơ Hà thời thạch mã độ giang Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu nghĩa ngựa đá sang sông làng Vĩnh Lại đầy công đầy hầu Nhưng ôi người tin ngựa đá sang sông Câu chuyện từ lạc người ta bắt đầu quên lãng Hai trăm năm sau Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, làng Vĩnh Lại gặp trận lụt to Và trận lụt đổi nguồn dòng sông từ trước mặt ngựa đá sang sau lưng ngựa đá, lời tiên tri ứng nghiệm Khi dân làng Vĩnh Lại lên mặt với làng kế cận, cô gái muốn Vĩnh Lại làm dâu Thời gian này, Tây Sơn chiếm nửa giang sơn, lần bắc tiến đầu tiên, khiến vua Lê bỏ thành mà chạy, lưu lạc đến làng Vĩnh Lại Dân làng Vĩnh Lại tìm vua, đem phò Vua ban công ban tước cho làng áp lực dân làng Vĩnh Lại, dĩ nhiên mà giang sơn vài chức tước tự nghĩ có hà đáng gì? Dân Vĩnh Lại sau phong tước, tập họp quân đội sẵn sàng cần vương Nhưng đội quân ô hợp trận bị đội quân bách chiến bách thắng Tây Sơn đánh tan nát, làng Vĩnh Lại tử vong vô số, gần tuyệt diệt Phải Nguyễn Bỉnh Khiêm lường họa sát thân làng Vĩnh Lại từ 200 năm trước chăng? Sắt ngắn ngỗ dài Hồi Nguyễn Bỉnh Khiêm từ quan quê làng Trung Am mở trường dạy học, học trò theo học đông Vào buổi tối 30 tết năm nọ; ông Trạng ngồi đàm luận lý số với anh học trò xuất sắc ông đến thăm biếu ông lễ vật, cổng có tiếng người gọi Ông sai gia nhân bảo chờ chút Trong đó, ông người học trò bấm quẻ để thử đoán xem người vào có việc gì? Cả hai thầy trò bấm vào quẻ "thiết đoản, mộc trường" Nghĩa "Sắt ngắn, gỗ dài" Ông hỏi người học trò - Vậy anh đoán người vào có việc gì? Anh học trò trả lời - Thưa thầy! "Thiết đoản, mộc trường, theo ý con, người vào hẳn có mượn mai đào đất mà thôi, không "sắt ngắn, gỗ dài" Ông cười nói - Khác với anh, lại đoán người vào mượn búa Nói xong, ông cho mở cổng Quả nhiên người vào hỏi mượn búa thật Anh học trò chững người đoán sai Thấy vậy, ông giải thích cho anh học trò - Kể anh bấm quẻ giỏi, mức đoán thấp Anh bảo "sắt ngắn, gỗ dài" mà đoán mượn mai, thử hỏi, 30 tết người ta đến để mượn mai làm chứ? Còn bảo người vào mượn búa để bổ củi nấu bánh chưng Tết mà Bấm quẻ đoán phải có ý thức biến, mà tránh sai lầm Anh học trò bái phục thầy, xin nhận lời bảo quí Trạng Trình thật người suy đoán giỏi ... sông làng Vĩnh Lại đầy công đầy hầu Nhưng ôi người tin ngựa đá sang sông Câu chuyện từ lạc người ta bắt đầu quên lãng Hai trăm năm sau Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, làng Vĩnh Lại gặp trận lụt to Và. .. ngôi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Trạng nguyen, vua phong làm ông đại học sĩ Làm quan tám năm ông dâng sớ xin chém đầu mười tám tên nịnh thần, vua Mạc không nghe, ông cáo bệnh từ quan Khi ông trí... Phải Nguyễn Bỉnh Khiêm lường họa sát thân làng Vĩnh Lại từ 200 năm trước chăng? Sắt ngắn ngỗ dài Hồi Nguyễn Bỉnh Khiêm từ quan quê làng Trung Am mở trường dạy học, học trò theo học ông Vào buổi - Xem thêm -Xem thêm Câu chuyện về nguyễn bỉnh khiêm và lời tiên tri của ông, Câu chuyện về nguyễn bỉnh khiêm và lời tiên tri của ông,
VTC News - Cho đến những đời sau, khi sự việc xảy ra, người ta mới giật mình bởi độ chính xác đến kinh ngạc của những câu sấm nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491–1585, người mà dân gian quen là Trạng Trình là một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được người đời biết đến với tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam - Bắc triều cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt không chỉ nổi tiếng về văn chương, chính sự mà còn rất nổi tiếng về tài dự đoán. Trong cuốn Phả ký Nguyễn Bỉnh Khiêm được viết vào năm 1743, Vũ Khâm Lân đã nhận xét “Ông là người khôi ngô anh tuấn, học hết các kinh sách lại rất tinh tế về nghĩa lý Kinh Dịch. Phàm việc mưa nắng, lụt hạn, họa phúc, điềm dữ, điềm lành, cơ suy, cơ thịnh... việc gì cũng biết trước”.Đền thờ Trạng Trình ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những dự đoán tương lai bí ẩn, thường gọi là Sấm Trạng Trình, mà cho đến những đời sau, khi sự việc xảy ra người ta mới giật mình bởi độ chính xác đến kinh ngạc. Vào những năm cuối cùng của thế kỷ 19, nhà sư Vương Quốc Chính, người xã Cổ Am Vĩnh Bảo, Hải Phòng, phát động phong trào chống Pháp đô hộ. Trước đó, trong dân gian đã lan truyền khá rộng câu sấm của Trạng “Thầy tăng mở nước trời không bảo”. Nghĩa đen đã khá rõ, không có trời nào giúp nhà sư, vì đã là người xuất gia tu theo Phật mà còn mưu đồ bá nhà nho thời ấy lại giải thích theo một nghĩa khác, theo họ thì chữ “thầy tăng” ở đây, Trạng nói kín chỉ “thằng Tây” đến cướp nước ta, đô hộ dân ta thì trời không dung thứ. Ngày ấy, chính quyền đô hộ và tay sai rất sợ sấm ký và uy tín của Trạng nên bắt bớ và khủng bố dã man những người đã truyền bá, lưu giữ sấm đến nay, rất tiếc là Sấm Trạng Trình vốn chỉ còn lại ở dạng truyền miệng, chỉ có số ít lưu giữ dưới dạng chép tay. Tuy nhiên, trong những tập sấm ký mà người đời sau sưu tầm được, khó có thể do những ai hiếu sự đã đặt ra, bởi nó đã được cố định hóa trước những sự kiện lịch sử hàng chục, hàng trăm năm, lại được lan truyền rộng rãi trong dân Đàn sinh thánh Đã từ lâu, ở nhiều địa phương trên cả nước, nhất là vùng Nghệ Tĩnh, người ta đã lưu truyền những câu sấm của Trạng Trình như sau “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh thánh”. Tạm dịch nghĩa là “Khi núi Đụn chẻ đôi, khe Bò Đái mất tiếng, sông Lam khoét vào chân núi Lam Thành, đất Nam Đàn sẽ sinh ra bậc thánh nhân”.Nhà sử học Ngô Đăng Lợi Hải Phòng, người chuyên nghiên cứu về Sấm Trạng cho biết, sau khi thực dân Pháp đàn áp tàn khốc phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, câu sấm này lại được bàn tán trao đổi rộng với niềm khát khao mong chờ vị thánh nhân xuất thế. Lúc đó, khe Bò Đái cũng đã ngừng chảy, tiếng suối chảy ở khe không còn nghe được nữa, do đó người dân càng tin và càng chờ một cuộc gặp giữa cụ Phan Bội Châu, học giả Đào Duy Anh, và nhà nho Trần Lê Hữu, nội dung cuộc đối thoại chỉ xoay quanh tình thế nước nhà và tương lai sẽ ra sao, Trần Lê Hữu có hỏi "Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!". Phan Bội Châu đáp "Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ra thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác".Khởi nghĩa Yên Bái 1930Sau cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân Đảng phát động bị thất bại tháng 2 năm 1930 Canh Ngọ, nhiều căn cứ bị Pháp đàn áp, khủng bố dã man như Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, Kiến An, Vĩnh Bảo... Riêng làng Cổ Am bị 5 máy bay đến ném bom làm nhiều người chết, nhiều nhà cửa bị thiêu cháy, đổ nát. Nhân sự kiện này, tuần báo Phụ nữ tân văn số 44 có đăng bài “Ông Trạng Trình có biết trước rằng làng Cổ Am của ông có ngày nay không?”. Tác giả bài viết ngờ rằng Trạng có biết nên “đã dời hết sách vở của ông vào Thanh Hóa... vì theo di chúc của ông thì làng Cổ Am không được bền vững”.Sau đó, báo nhận được một bài thơ do bạn đọc sưu tầm và gửi cho, được cho là bài thơ sấm của Trạng Trình. Phụ nữ tân văn số 48 đã cho đăng bài thơ sấm đó “Hiu hiu gió thổi, lá rung cây/ Từ Bắc sang Nam, Đông tới Tây/ Cửa nhà tan tác ra cồn cát/ Rừng núi ruộng nương hóa vũng lầy/ Tan tác Kiến kiều An đất nước/ Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây/ Một gió, một Yên ai sùng Bái/ Cha con người Vỉnh, Bảo cho hay”.Có một người dân làng Cổ Am cho hay, khi Pháp ném bom xuống làng, miếu thờ Trạng bị đổ lây. Mấy tuần sau dân ra sửa sang lại thì phát hiện ra một tấm bia nhỏ khắc ba hàng chữ Hán theo lối triện “Canh niên tân phá/ Tuất, hợi phục sanh/ Nhị ngũ dư bình”.Lúc ấy người ta đoán Canh niên tức là năm Canh Ngọ 1930, còn ý tứ của 2 câu sau cho đến giờ vẫn đang còn tranh luận. Còn bài thơ sấm ở trên chắc chắn có trước năm 1930 và được lưu truyền, những địa danh lịch sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa Yên Bái đều được phản ánh dưới dạng kín mạng Tháng 8Theo các nhà sưu tầm và nghiên cứu, trong các sự kiện lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20, cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đã được Trạng Trình dự báo qua câu thơ “Đầu Thu gà gáy xôn xao/ Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long”.Theo luận giải, ở câu 1, “đầu Thu” là tháng 7 Âm lịch, “gà” nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện lịch sử này diễn ra, “gáy xôn xao” nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn câu 2, “Trăng xưa” nghĩa là “cổ nguyệt” theo Hán tự, ghép lại thành từ “hồ”, là họ của Hồ Chủ tịch. “Sáng tỏ soi vào Thăng Long” là sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào ở quảng trường Ba Đình của thủ đô Thăng Long – Hà sử học Ngô Đăng Lợi bên các tài liệu nghiên cứu về Sấm Trạng Trình Cũng liên quan đến sự kiện Cách mạng Tháng Tám, nhà sử học Ngô Đăng Lợi còn sưu tầm thêm một bài thơ trong dân gian, tương truyền là của Trạng Trình để lại “Rồng nằm bể cạn dễ ai hay năm thìn 1940/ Rắn mới hai đầu khó chịu thay năm tỵ 1941/ Ngựa để gác yên không ai cưỡi năm ngọ 1942/ Dê khan ăn lộc ngoảnh về tây năm mùi 1943/ Khỉ nọ bồng con ngồi khóc mếu năm thân 1944/ Gà kia xào xạc cất cánh bay năm dậu 1945/ Chó ve vẩy đuôi mừng thánh chúa năm tuất 1946/ Lợn ủn ỉn ăn no ngủ ngày năm hợi 1947”.Nhà sử học Ngô Đăng Lợi cho biết, nếu để ý tới câu thứ 6 thì “Gà kia xào xạc cất cánh bay”, phải chăng là ám chỉ việc quân Pháp bị tước khí giới và phải trở về nước, trả lại nền độc lập cho chúng ta, vì chữ gaulois người Pháp do chữ latin gallus cũng có nghĩa là con gà. Như vậy câu 6 của bài sấm ứng vào Cách mạng Tháng 8. Câu 7 “Chó ve vẩy đuôi mừng thánh chúa” sẽ ứng với việc Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu lãnh tụ dân tộc Hồ Chí Minh làm chủ tịch nước vào năm 1946 năm Bính Tuất.Phóng viên trao đổi với nhà sử học Ngô Đăng Lợi giai thoại về Sấm Trạng Trình Phần lớn các nhà Nho học nước ta cho rằng Trạng Trình am tường sâu sắc kinh Dịch và Lý học nên tiên tri ứng nghiệm. Những lời sấm chủ yếu là tiên đoán giai đoạn từ khi ông qua đời cho đến hôm nay. Các sự kiện như Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân; Cao Bằng tuy tiểu khả diên sổ thế; Nam Đàn sinh thánh... về sau đã ứng nghiệm một cách đáng kinh ngạc. Và còn rất nhiều những câu sấm còn lưu truyền trong dân gian vẫn đang là đề tài phân tích, lý Khang – Minh HảiGhi theo lời kể của nhà sử học Ngô Đăng Lợi Bổ ích Xúc động Sáng tạo Độc đáo
Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585 huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học, cha là Nguyễn Văn Định có văn tài, học hạnh. Mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ, giỏi văn chương, am tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã được mẹ đem thơ quốc âm và kinh truyện ra dạy. Cùng chúng tôi điểm qua những bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất trong bộ sưu tập sáng tác thơ bạn nhé! Chức phận làm con Phận làm con phải thông đạo hiếu, Phận làm dân phải hiểu chữ trung. Trên ra lệnh, dưới phục tùng, Cha làm việc tốt, con cùng làm theo. Của cải nhiều dùng lâu cũng hết, Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng. Bàn mưu tư lợi thì đừng, Bàn điều chân chính, nên cùng tham gia. Làm tốt chớ ba hoa kể lể, Hoa sớm nở, thì hoa dễ sớm tàn. Cẩn thận đáng giá ngàn vàng, Phải suy nghĩ kỹ hãy làm mới hay. Người tốt hay xắn tay làm phúc, Giúp ai không lợi dụng người ta. Người biết lỗi, sửa thì tha, Trị người có tội, chớ mà quá nghiêm. Dạy điều thiện, đừng nên tham quá, Để người học có khả năng theo Khoan hòa sẽ được tin yêu, Siêng năng cần mẫn ắt nhiều thành công. Nói thận trọng thì không sợ lỗi, Làm thận trọng đỡ hối về sau. Thế lực dù mạnh đến đâu, Nếu đem dùng hết, ắt sau hại mình. Hoặc cậy thế tạo thành phúc lộc, Hẳn rằng sau cũng chẳng ra gì. Cứ đường chính đạo mà đi, Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa nghĩ suy mà làm. Nói về giàu sang Bài thứ ba bàn sự giàu sang Giàu với sang ai chả ước mong, Nhưng giàu sang chẳng chính công, Là phi đạo đức, hẳn không lâu bền. Ai sống kẻ nghèo hèn cũng chán, Nhưng bất lương đuổi hẳn chẳng đi. No cơm hẩm thiết gì thịt cá, Vui cảnh nghèo, quên cả giàu sang. Người quyền quý, lắm bạc vàng, Lấy gương xử với họ hàng mà soi. Ở phải đạo, nhiều người giúp đỡ, Sống bất lương, ít chỗ thân tình. Thà nghèo giữ được thơm danh, Hơn giàu lắm chuyện phẩm bình, cười chê. Bọ ngựa rình con ve định bắt, Chim sẻ rình bọ sát phía sau… Tiếng tăm lừng lẫy càng nhiều, Tránh xa kẻ xấu sinh điều ghét ghen. Nhiều tài cũng lắm phen khốn khổ, Nhiều công là cái hố suy bì. Nhớ rằng đừng cậy, chẳng khoe, Phải luôn thận trọng chớ hề phô trương. Nói với bạn việc ngay ý thẳng, Phải người tham họ chẳng nghe đâu. Nói với quan chuyện thanh cao, Phải quan tham nhũng hẳn sau nó trù. Đại nghĩa Bài thứ tư nêu câu Đại nghĩa Dạy cho người ta biết để khuyên nhau. Trung với nước đặt lên hàng đầu, Đạo cha con được xếp vào đại luân. Trai tài biết thương dân, thủ tiết, Gái kiên trinh phải biết giữ mình. Người tài nước được thơm danh, Vợ giỏi như được ngọc lành trời cho. Gái bất chính thì cho chẳng lấy, Trai có tài mắc bẫy thì ngu. Bất trung dễ mắc mưu thù, Minh quân như mù mới lấy làm quan. Con dân thường chăm ngoan học giỏi, Cũng có ngày tiến tới làm quan, Con quan chẳng chịu học hành, Suốt đời cũng chỉ làm anh dân thường. Làm quan chức, thấm ơn chế độ, Có nuôi con, mới nhớ được công cha. Muốn lòng ngay thẳng thật thà, Rèn luyện ý trí phải là đầu tiên. Chí thiện Bài thứ năm Tâm linh chí thiện Mong tốt lành mọi chuyện công tư. Rất vui là đọc thi thư, Việc đời mệt nhất ấy là dậy con. Cha nghiêm phụ răn con hiếu thảo, Mẹ nhân từ dạy bảo gái ngoan. Nhà lành hương toả chi lan, Ở lâu chẳng thấy mùi thơm ngạt ngào. Gần kẻ ác như vào chợ cá, Buộc người ta quen cả mùi tanh. Có nết tốt chẳng kiêu căng, Đức dày thêm mãi tạo thành thói quen. Giàu chớ kiêu chớ nên ích kỷ, Sang cũng đừng xa sỉ, hợm đời. Việc làm muốn tốt tuyệt vời, Ba lần căn nhắc hẳn hoi mới làm. Suy tính kỹ bao hàm hai ý Việc chung riêng thấu lý đạt tình. Từ xưa vẫn sợ, vẫn kinh, Lòng người nham hiểm nảy sinh khó lường Kẻ tiểu nhân mưu đồ xảo quyệt, Thích mưu đồ tiêu diệt người ngay. Cho dù hiểm độc, quắt quay, Không qua lẽ phải, chẳng xoay đạo trời. Kẻ bất nhân nhất thời nổi tiếng, Không người thì trời diệt chẳng tha Tự nhiên được của đầy nhà, Một là lộc lớn, hai là họa to Có lúc bại, trời cho thắng cuộc, Hoặc đang nghèo bỗng được giầu sang. Thế gian yêu lắm ghét nhiều, Khen nhiều chê lắm, bao điều bất an. Mừng nhiều lo lắm chẳng oan, Vinh nhiều nhục lắm, thế gian thường tình. Đừng cậy thế mà sinh kiêu ngạo, Chớ cậy quyền để tạo lợi riêng. Làm một điều thiện cũng nên, Trừ một việc ác quả nhiên rất cần. Sinh sự thì bận tâm mệt sức, Nên nhún nhường tạo Đức thì hơn. Việc chuẩn bị kỹ hãy làm, Việc không chuẩn bị chớ tham làm bừa. Bao kinh nghiệm từ xưa đã thấy, Sai một ly đi mấy dặm đường. Quả quyết được việc lẽ thường, Đắn đo hỏng việc, ấy gương ở đời. Sắc chẳng mê người, chính người mê sắc, Rượu chẳng say người, chỉ tại người say. Đừng nên vui quá nói chầy, Chớ vì sướng quá vung tay làm liều. Quý chim phượng bởi yêu lông cánh, Trọng người hiền ở cách nói năng. Gặp khi hoạn nạn khó khăn, Hành vi tế nhị, nói năng lựa lời. Mười mắt rồng và mười tay trỏ Thật công minh sáng tỏ sâu xa Quả đào người quý tặng ta, Ta lấy quả mận đem ra biếu người. Cung nỏ lạ chớ cầm mà khốn, Ngựa chẳng quen, chớ cưỡi mà ngã. Qua ruộng dưa chớ sửa giầy, Dưới gốc mận chớ giơ tay sửa đầu. Coi chừng chốn cửa cao nhà rộng, Đừng cậy rằng tông tộc mình to. Họ to lắm chuyện tò mò, Cửa cao thường giở những trò kiêu căng. Người tốt, chơi nói năng chân thật, Kẻ xấu, chơi như mật chết ruồi. Người tốt bền chí thức thời, Khó khăn thuận lợi vẫn nuôi chí bền. Kẻ xấu thường van xin lúc khó, Được việc rồi thì nó quên luôn. Mới hay muôn sự vui buồn Những điều chí thiện phải luôn ghi lòng. Thiện ác Bài thứ sáu Hai dòng Thiện–Ác Là hai điều thật khác nhau xa Trăm năm trong cõi người ta, Dở, hay báo ứng, thật là công minh. Báo ứng có khi nhanh, khi chậm, Nhà tối, nghèo nào dám coi khinh. Việc làm phúc nếu vô tình, Như tuồng lánh nạn, đáng khinh khỏi bàn. Kẻ bạo ngược mưu toan việc xấu, Bịp được người sao giấu được trời Vầng dương mọc lặn luân hồi, Mặt trăng tròn khuyết, đầy rồi lại cong. Tình người cũng tụ, xong lại tán, Buồn lại vui, vui chán lại buồn. Cỏ hoa sớm nở tối tàn, Cây tùng cây bách muôn ngàn sức xuân. Mỗi ngày xét bản thân ba lượt Đêm nhiều người sẽ biết cho ta. Số trời vốn sẵn định ra, Giàu sang có mệnh, vinh hoa có ngày. Hoa nở muộn do cây cằn cỗi, Đời chưa vui, bởi nỗi khổ nghèo. Giàu sang, khách đến thăm nhiều, Nghèo hèn, thân thích ra chiều cách ly. Lúc dư dật, phòng khi túng thiếu, Khi sướng vui, phải liệu khi buồn. Một nhà nề nếp cương thường, Cha từ, con thảo, đẹp gương vợ chồng. Tình anh em thuận lòng nhân ái, Nghĩa bạn bè qua lại giúp nhau. Người con phòng lúc ốm đau. Chứa thóc phòng đói là câu chí tình. Giúp người gặp cảnh tình nguy cấp, Hoặc cứu người trong lúc gian nguy. Có mới đừng nới cũ đi, Tiếng nói một nẻo, bụng suy một đằng. Chớ có lành bắt vành ra méo, Đừng làm cho bé xé ra to. Một chút tà tất quanh co, Người ta sẽ tỏ các trò quắt quay. Lời không cánh mà bay khắp ngả, Đạo đức cao thì gốc cả, rễ sâu. Ngọc vết mài chẳng khó đâu, Nói sai, biết sửa bao lâu mới lành. Lời đã nói bay nhanh hơn gió, Bốn ngựa phi cũng khó đuổi theo. Khinh người là thói tự kiêu, Người ta khinh lại, đời nào chịu thua. Tự khen mình mà chê người hỏng, Thì người ta có trọng gì mình. Hãy suy Thiện–Ác, Nhục–Vinh Ở sao có nghĩa có tình thì hơn. Việc gia thất muốn yên mọi sự Mỗi người nên biết xử phận mình Đừng mưu lấy của bất minh Chớ ghen ghét với người mình còn thua. Vợ người ta chớ đùa cợt nhả, Đừng gièm pha quấy phá hôn nhân. Một năm có một mùa xuân, Mỗi ngày chỉ một giờ dần đầu tiên. Cháy nhà có nước liền dễ chữa, Láng giềng cần giúp đỡ lẫn nhau. Tình đời lắm chuyện thương đau, Anh em để mẩt lòng nhau thật buồn. Người xưa bảo thói quen thường vẫn vậy, Đàn bà thì khó dạy khó chiều. Quân tử phép chẳng cần theo, Tiểu nhân chẳng chấp những điều lễ nghi. Thấy ai có vật gì quý giá, Chớ lân la tán gạ, nài xin. Công việc nào quá khó khăn, Đừng buộc người khác phải lăn vào làm. Muốn trách người, phải xem mình trước. Nếu tha mình, tha được người ta. Đứa bất chính, kẻ gian tà, Kết thân với chúng dễ mà tàn thân. Không minh bạch miếng ăn lời nói, Là nguyên nhân cái tội hại mình. Lúc trẻ lao động nhiệt tình, Khi già cuộc sống gia đình thảnh thơi. Trẻ mà lêu lổng chơi bời, Về già chắc hẳn cuộc đời gian truân. Của cho con đâu cần vàng ngọc Mà cho con được học được hành. Cho muôn khoảnh ruộng tốt xanh, Chẳng bằng cho chúng nghề lành trong tay. Mộng làm giầu thường hay thất đức, Làm điều nhân khó được giầu sang. Thuốc hay khó chữa bệnh oan, Của nhặt được khó mở mang giầu bền. Bất nghĩa mà trở nên phú quý, Như mây bay bọt khí nổi trôi. Phúc do trong sạch lòng người, Đức từ kiên nhẫn sống đời yêu thương. Tham lam lắm tất vương tai họa, Sống bất nhân tội chả thoát đâu. Tiểu nhân chẳng giúp ai đâu, Bởi trong lòng họ, như đầu mũi kim. Chỉ gai góc rắp tìm mưu kế, Cốt hại người để mong lợi mình. Người quân tử có bất bình, Liệu mà xa lánh, kẻo sinh hận thù. Tình người khác chi tờ giấy trắng, Như cuộc cờ vốn chẳng giống nhau. Khéo mà ứng xử với nhau, Đừng làm ai đó phải chau đôi mày, Chớ mạt sát day tay mắm miệng, Để người ta phải nghiến hàm răng. Ngựa gầy nên kém chạy hăng, Người không hồ hởi phải chăng vì nghèo. Sẵn tiền, rượu thì nhiều bạn đấy, Lúc lâm nguy nào thấy một ai. Luật trời báo ứng chẳng sai, Không trước mắt, cung lâu dài chứng minh. Tích thiện Bài thứ bẩy khuyên luôn tích thiện, Chứa điều lành như mặt trời lên. Rất vô tư, rất tự nhiên, Sáng soi muôn nẻo chẳng phiền đến ai. Chứa điều ác là tai họa đấy, Lửa trên đầu nào thấy mà lo. Chuyện ác dù chẳng nói to, Trên trời rung động tự hồ sấm vang. Việc mờ ám tưởng không ai biết, Nhưng mắt thần như điện sáng soi. Giầu sang đúng phận thì thôi, Nghèo hèn xử sự đúng môi trường nghèo. Suy từ ta ra nhiều người khác, Khoe điều lành, điều ác giấu đi. Thấy ai làm ác điều gì, Khéo can ngăn, hoặc nghoảnh đi chớ nhìn. Chuyện người khác không đem đàm tiếu, Mặc người ta, mạnh, yếu, giở, hay. Nói nhiều nghe cũng chán chầy, Khuyên nhiều sinh oán, bấy nay lẽ thường Khi yêu cũng nên lường lúc ghét, Lúc ghét nên nhớ đến khi yêu. Việc làm, lời nói, ít nhiều, Phải nên hướng thiện, phải theo phận mình. An phận Giữ yên phận là bài thứ tám Đừng để người đụng chạm đến ta Biết lo tính, biết phòng xa, Khoan dung ngay thẳng hẳn là sống lâu. Nước chân chính, lòng trời cũng thuận, Quan thanh liêm dân hẳn yên lòng Vợ hiền là phúc nhà chồng, Các con hiếu thảo thì lòng cha yên. Dẫu có tài giỏi chớ nên khoe khoác, Nhiễu sự sao bằng được an nhàn. Bốn mùa ấm lạnh xuềnh xoàng, Nói năng thận trọng rõ ràng được yên. Của dễ được tất nhiên dễ mất, Được vất vả thì mất khó khăn. Làm thong thả việc chắc ăn Việc đời muôn sự khó khăn ban đầu. Người xưa nói những câu triết lý Vào núi bắt hổ dễ như chơi, Còn khi mở miệng dạy người, Khó khăn nhiều lắm, liệu lời đắn đo. Quân tử cần ăn no uống đủ, Không cầu kỳ cốt giữ bình yên. Trò tìm thầy học dễ tìm, Thầy tìm trò tựa mò kim đáy hồ. Việc chia chác chẳng lo ít ỏi, Chỉ đáng lo cái tội không đều. Không lo hoàn cảnh túng nghèo, Chỉ lo xã hội nhiều điều bất công. Quá nham hiểm bởi lòng tham lắm. Quá nhẫn tâm lòng hẳn quá tàn. Đại đạo Giữ đại đạo là bài thứ chín, Lấy chữ “Trung” chữ “Tín” làm đầu. Người quân tử đạo đức cao, Không kiêu thái, giữ trước sau chan hòa. Khi cần giúp người ta việc gấp, Chẳng chọn ngày, đừng bấm ngón tay. Người được ta cũng mừng thay, Người đau, thông cảm đắng cay cho người. Nói thao thao ngàn lời tươm tất, Cũng không bằng việc thật đã làm. Kiếm lời chê trách nhân gian, Chính là chuốc lấy mối oan hại mình. Ta giúp người chân tình độ lượng, Là góp điều làm phước đáng tin. Trăm nghe không bằng một nhìn, Một việc thực tế hơn nghìn lời suông. Việc trời đất cũng thường thay đổi, Sáng gió mưa, chiều đã đẹp trời. Giống như cuộc sống một con người Sáng chiều, may rủi đầy vơi chuyển vần. Có việc đối với ta như thế Nhưng với người đâu rễ giống ta Khi lời nói trái phát ra, Tất nhiên cái họa cũng sà vào theo. Của phi nghĩa đưa vào cửa trước, Nó cũng tìm đường bước lối sau. Đừng làm những chuyện không đâu Chớ tham của lạ để sau bận lòng Việc đừng quá lao tậm cật lực, Nên đắn đo vừa sức thì làm, Không lười biếng chẳng tham lam Học điều Đại đạo – để làm thực tâm. Học vấn Bài mười lăm răn đường học hỏi. Có tư duy mạnh giỏi hơn người. Trước là đẹp đạo đất trời, Sau là xây dựng tình người đẹp hơn. Hiếu với cha thời con hiếu lại, Kính trọng người người lại trọng ta. Chớ tin những thuyết tà ma, Nó làm chìm đắm xấu xa lòng người. Người xưa bảo tiền tài – phấn đất, Nghĩa nhân kia mới thật là ngàn vàng. Đường dài thử sức gian nan, Sống lâu mới biết ruột gan tình người. Biết giữ phận thì đời nhàn hạ, Không gian tham tai họa khó vào. Vận đen vàng hóa ra thau, Vận đỏ sắt cũng ra màu vàng tươi. Rượu trắng nhuốn đỏ mặt người Bạc vàng dễ nhuộm lòng người tối đen. Nghèo giữa chợ ai thèm thăm hỏi, Giàu trên rừng có khối người thương. Vẽ hổ khó vẽ bộ xương, Biết người biết mặt khó lường lòng ai. Không đáng sợ sức hai con hổ, Chỉ sợ người ăn ở hai mang Sống đại lượng phúc huy hoàng. Mưu sâu tai họa ắt càng thêm sâu. Vợ chồng hiệp sức nhau bàn bạc, Có tiền mua nhiều lạng vàng dòng. Vợ chồng ăn ở khác lòng Có tiền đâu dễ sắm cùng cái kim Trị nhà như cầm cương ngựa dữ, Trị nước như dạo thử cung đàn. Cho nên học hiểu và làm, Lẽ trời với lẽ dân gian hài hòa, Muốn xây phú quý vinh hoa, Cái nền học vấn phải là đâu tiên. Tu đức Bài mười sáu thường xuyên tu đức, Phải chuyên tâm nỗ lực hàng ngày. Học rồi thực tế làm ngay, Rút ra kinh nghiệm dở hay sự tình. Tu đức tốt tướng sinh ra tướng, Con thảo hiền sinh được cháu ngoan. Nhà nghèo nhờ vợ đảm đang, Nước loạn cầu tướng giỏi giang, trung thành. Âm dương hòa không sinh lụt bão, Vợ chồng hòa thì đạo nhà nên. Tránh điều nghi kỵ hờn ghen, Đàn bà tiếp khách phải nên nhớ rằng Cử chỉ đẹp, nói nhẹ nhàng, Khi đưa tiễn khách xin đừng quá chân. Bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Người đàn bà gánh nặng lo toan. Đừng kiêu sa, chớ lăng loàn, Đừng ghen ghét chớ giận hờn với ai. Gái yêu chồng đẹp vui mọi vẻ, Giúp chồng nuôi con khỏe con ngoan. Dựng xây tôn thống họ hàng, Sáng trong như ngọc, nết càng đẹp ra. Khi lòng dục dâm tà đã mở, Quên yêu thương bỏ cả lễ nghi. Nết hư dù chỉ một ly, Tiếng tăm đồn đại bay đi khắp vùng. Lương tài Bài mười tám răn chữ lương tài Lương là đạo cao đức trọng Có lương tài chết sống thơm danh. Người tài lành có bạn lành, Người ác bạn ác kết thành tai ương. Người lương tài nên thường nói thẳng, Kẻ xấu xảo nịnh chẳng thương yêu. Người lành nói ít làm nhiều, Tiểu nhân múa mép, lắm điều ba hoa. Người lành không gian tà uẩn khúc, Hành động luôn chính trực, phân minh. Kiệm cần có lý có tình, Để không mang tiếng rằng mình kiêu sa. Vụng may áo gấm cũng hỏng, Làm bậy thì phá hỏng cơ ngơi. Biết ít thì sống thảnh thơi, Biết nhiều lắm chốn, lắm điều thị phi. Người giúp việc cần chi đẹp xấu, Cần chọn người trung hậu, chăm ngoan. Lòng người, nọc rắn khó phân, Mặt trời ai biết chuyển vần như xe. Của xóm Đông lấy về hôm trước, Đến hôm sau nó ngược xóm Đoài Việc hôm nay, việc ngày mai. Hãy đem hai chữ Lương Tài mà xem. Thịnh đức Bài hai mươi là thiên thịnh đức Một số điều đã được rút ra. Người thực tài chẳng ba hoa, Thường khi dung mạo cứ là như ngây. Có ruộng không cấy cày thì đói, Có sách không học hỏi thì ngu. Trai không dạy, khác chi lừa, Gái ngu thì cũng giống như lợn sề. Trai sợ vợ bởi vì nhu nhược, Gái kính chồng vì được nết ngoan. Phải dè xẻn bởi thiếu ăn, Sống xa xỉ bởi nguyên nhân của thừa. Vừa lười nhác, lại vừa ngu xuẩn, Thì giầu sang đâu đến mà mơ. Hay đến thân cũng thành sơ, Ngồi dai chủ chẳng bao giờ thích đâu. Uống rượu đấu khẩu nhau ít chứ, Mới là người quân tử phòng thân. Thóc tiền sòng phẳng đồng cân, Mới là đức độ, tinh thần trượng phu. Con cá bị giật lên bờ Có hối cũng chẳng bao giờ được tha. Làm việc xấu đã sa pháp luật, Hối ba lần cũng thật muộn mằn. Nước loạn chớ đến dung thân Nơi nguy hiểm chớ bước chân lần vào. Phép quyền biến làm sao biết trước, Phải đắn đo mong được an toàn, Lò lửa ví như phép quan, Lòng người như sắt như gang trong lò Người yếu phải nương nhờ người mạnh, Giúp được người là hạnh phúc thay, Không thù dai chẳng hại ai, Tuy nhiên vẫn phải nhớ bài phòng thân. Trên lượng cả, chẳng cần phạt dưới, Kẻ trịch thượng từ chối đừng chơi. Nước trong ít cá lội bơi, Sống nhiều khe khắt, ít người mến thân. Hiếu hoàn Bài hai mươi mốt hai chữ hiếu hoàn. Hiếu hoàn luật xoay vần vay trả, Báo ứng nhanh gương đã nhiều rồi. Nhạt nồng khéo ở lòng người, Dở hay đã có đạo trời phân minh. Trời mưa gió thình lình bất chắc, Người có khi dồn dập tai ương. Có đức dễ được thọ trường, Tu nhân tích đức, phúc thường dầy thêm. Lừa dối người là mầm tai họa, Phúc dầy nhờ lượng cả bao dung. Cẩn thận chẳng sợ khốn cùng, Nhẫn thì chẳng nhục, vạ không đến mình. Sống bình tĩnh được yên lành mãi Biết kiệm cần đỡ phải reo neo. Trên sông tùy khúc bơi chèo, Vào nhà tùy lúc liệu chiều tuân theo. Dạy con cháu bằng điều từ thiện, Lấy khoan dung điều khiển người theo. Một năm kế hoạch ăn tiêu, Không gì bằng cấy trồng nhiều lúa khoai Kế mười năm dài hơn một chút, Không gì bằng trồng được nhiều cây. Còn như kế hoạch lâu dài, Là trồng cây đức dẻo dai liền liền. Dù lắm tiền thuốc men tẩm bổ, Chẳng bằng đêm nằm ngủ riêng giường. Dạy con lần mở văn chương, Ở trong vùng bạc kim cương có thừa. Một con được ơn vua lộc nước, Để cả nhà cũng được thơm lây. Siêng năng học tập đêm ngày, Để mà chiêm nghiệm lời này khuyên răn. Việc đúng cứ tiến hành đừng sợ, Trời sẽ cho phúc ở tầm tay Lấy điều đạo lý xưa nay, Truyền cho con cháu đời này đời sau. Thú nhàn Lẩn thẩn ngày qua tháng qua, Một phen xuân tới một phen già. Ái ưu vằng vặc trăng in nước, Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa. Án sách hãy còn án sách cũ, Nước non bạn với nước non nhà. An phận thì hơn Giàu ba bữa khó hai niêu, An phận thời hơn hết mọi điều. Khát uống trà mai hơi ngột ngột, Sốt kề hiên trúc gió hiu hiu. Giang sơn tám bức là tranh vẽ, Hoa cỏ tư mùa ấy gấm thêu. Thong thả hôm rằm sớm thức, Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu. Lòng thư thái Vinh nhục bao phen hẳn đã từng Lòng người sự thể dửng dừng dưng Khen thì nên tốt, chê nên dại Mất cũng chẳng âu được chẳng mừng Có ai biết được lòng tri kỷ Vời vợi non cao nguyệt một vừng Điền viên thú Trải gian nguy đã mấy phen, Thân nhàn phúc lại được về nhàn. Niềm xưa trung ái thề chăng phụ, Cảnh cũ điền viên thú đã quen. Ba quyển đồ thư thu nặng túi, Một thuyền phong nguyệt chở đầy then, Trời cũng biết nơi lành dữ, Hoạ phúc chăng dung cái tóc chiên. Thú ẩn dật Một cơ yêu nhọc đổi thay điều Yêu bao nhiêu thì nhọc bấy nhiêu. Tham phải cái công danh luỵ, Muốn cho con tạo hoá trêu. Vui vườn Lạc Xã năm khách, Lánh đất Nam Dương một lều. Khuyên đời Mựa chê người vắn, cậy ta dài, Dù kém dù hơn ai mặc ai. Vị nọ có bùi, không có đượm, Thức kia chầy thắm, lại chày phai. Dù hay phận mới, yên dầu phận, Dẫu có tài hơn, chớ cậy tài. Quân tử niệm đời nơi xuất xử, Ắt cùng khôn hết cả hoà hơi. Mặc chê khen Thị phi chẳng quản mặc chê khen, Ngu dại trần trần tính đã quen. Cảnh cũ điền viên tìm tính cũ, Khách nhàn sơn dã dưỡng thân nhàn. Nhà thông đường trúc lòng hằng mến, Cửa mận tường đào bước ngại chen. Sự thế tuần hoàn hay đắp đổi, Từng xem thua được một hai phen. Dại khôn Làm người có dại mới nên khôn, Chớ dại ngây chi, chớ quá khôn. Khôn được ích mình, đừng để dại, Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn. Khôn mà hiểm độc là khôn dại, Dại vốn hiền lành ấy dại khôn. Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại, Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn. Thú dưỡng thân Mới hay phú quý bởi thời vần, Tua sá ngang tàng thú dưỡng thân. Bất ý miệng ngâm câu quốc ngữ, Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân. Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt, Ngõ hạnh đưa người chân đá chân. Dẫu có ai han thời sẽ nhủ Thái bình thiên tử, thái bình dân. Tiêu sái tự nhiên Tiêu sái tự nhiên ắt nhẹ mình, Nài bao quyền cả áng công danh. Vô tâm nước có gương soi bạc. Đắc thú kho đầy gió mát thanh. Trẻ dầu biết cơ tạo hoá, Già lọ phục thuốc trường sinh. Thanh nhàn dẫu được qua ngày tháng, Non nước còn xem chốn hữu tình. Của nặng hơn người Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười, Có của thì hơn hết mọi lời. Trước đến tay không nào đoái hỏi, Sau vào nặng túi lại vui cười. Anh anh chú chú mừng hơ hải, Rượu rượu chè chè thết tả tơi. Người của lấy cân ta thử nhắc, Mới hay rằng của nặng hơn người. Đôi nét về tiểu sử nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Đôi nét về tiểu sử nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh ngày 6 tháng 4 năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông 13 tháng 5 1491, ở thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Cha của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Mẹ của ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số, nên muốn chọn một người chồng tài giỏi để sinh ra người con có thể làm nên đế nghiệp sau này, nhưng kén chọn mãi đến khi luống tuổi bà nghe lời cha mới lấy ông Nguyễn Văn Định người huyện Vĩnh Lại là người có tướng sinh quý tử. Quê ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Nội ngoại đôi bên thuộc hai phủ nhưng bên này bên ấy nhìn rõ cây đa đầu làng, chỉ qua con sông Hàn Tuyết Giang nối đôi bờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được giáo dục từ nhỏ trong một gia đình nội ngoại đều có học vấn uyên thâm. Hầu hết những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ghi nhận ảnh hưởng lớn của bên họ ngoại trong việc hình thành nhân cách cũng như tài năng của ông. Trong gia phả của họ Nguyễn thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thôn An Tử Hạ còn ghi lại “Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế”, qua đó cho thấy người mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan có công lớn giáo dưỡng Nguyễn Văn Đạt khi còn nhỏ. Những sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Thể loại sáng tác Thơ chữ Hán Bài chi tiết Bạch Vân am thi tập Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập, theo ông cho biết là có khoảng một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Trong lời đề tựa cho tập thơ chữ Hán của mình, ông đã viết “… Tuy nhiên cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy. Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân” Bạch Vân am thi tập tiền tự. Thơ chữ Nôm Bài chi tiết Bạch Vân quốc ngữ thi tập Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập, chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, nhưng không cho biết có bao nhiêu bài, hiện còn lại khoảng 180 bài. Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài mà việc đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này. Theo Phả ký Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký của Vũ Khâm Lân, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã bị thất lạc. Các thể loại khác Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ cả chữ Hán và chữ Nôm còn lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều bài văn bia bi ký nổi tiếng như Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký, Tam giáo tượng bi minh… Hầu hết bia đá ông cho khắc lúc sinh thời đã bị thất lạc hay hư hại qua hàng thế kỷ nhưng nhiều bài văn bia nhờ được người đương thời chép lại mà còn lưu đến hôm nay. Một số văn bia do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá đã được tìm thấy vào năm 2000 tại huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình nằm giáp với huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng qua sông Hóa. Trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng. Các tập sấm ký Nôm thường mang tên Trạng Trình Sấm Trạng Trình và phần lớn viết theo thể lục bát như Trình quốc công sấm ký, Trình tiên sinh quốc ngữ. Sấm Trạng Trình là một hiện tượng văn học cần phải được tìm hiểu và xác minh thêm. Những giá trị của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc. Ông là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri… Nhưng ông cũng đồng thời là một tác gia lớn có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc. Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú, gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc. Trên đây là một số những sáng tác nổi bật của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm do đã tổng hợp và chia sẻ đến các bạn. Hy vọng với những thông tin trên đây sẽ giúp bạn có thêm nhiều hiểu biết hơn về nhà thơ bạn nhé! Xem thêm +666 Lời Chúc Buổi Tối Vui Vẻ và Lãng Mạn nhất Anh Ngữ Quốc Tế Ocean Edu +222 Hình tô màu máy bay trực thăng cho bé đẹp Hướng dẫn cách chọn mua mành tre cuốn sushi tốt nhất Top 20 Trường THPT tại Hà Nội nổi tiếng đào tạo tận tâm nhất
nguyễn bỉnh khiêm tiên tri về bác hồ