nghi thức chẩn tế miền trung
Bộ Y tế Thái Lan hôm Chủ nhật (11/7) cho biết, hơn 600 nhân viên y tế nước này đã được tiêm hai liều vaccine Sinovac của Trung Quốc nhưng vẫn được chẩn đoán nhiễm COVID-19. Các nhà chức trách đang xem xét liệu có nên tiêm liều thứ ba là các loại vaccine khác cho nhóm nguy cơ cao này để cải thiện khả năng bảo vệ hay không.
Nghi án mất con: Sở Y tế "quên" trách nhiệm của những bên liên quan. Thứ sáu, 27/07/2012 - 09:07. (Dân trí) - Khởi đầu của việc chẩn đoán 1 thai thành 2 là tại phòng khám Phước Sơn, sai lầm này vỡ lở tại bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức. Tuy nhiên, "tội lỗi" đều
Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh Hô hấp. Ngày 13/11/2021, Hội nghị Khoa học thường niên Hội Hô hấp Việt Nam diễn ra trực tuyến, thu hút hơn 2000 đại biểu tham dự trên toàn quốc, trong đó có 20 chuyên gia quốc tế. Hội nghị có sự tham gia của PGS.TS Lương Ngọc Khuê
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. Sau hàng nghìn năm du nhập vào nước ta, Phật giáo đã được đông đảo cư dân Việt tiếp nhận, vì Phật giáo không chỉ lý giải các vấn đề phát sinh trong cuộc sống, mà còn có những hoạt động thực tế giúp giải quyết những mâu thuẫn xã hội. Trong số đó có lễ cúng chẩn tế, nghi thức này tuy chưa diễn tả hết tinh thần và tư tưởng Phật giáo, nhưng là một trong những nỗ lực của Phật giáo theo hệ tư tưởng Bắc truyền, nhằm vận dụng những hoạt động thực tiễn để đưa Phật giáo đến gần hơn với người dân. Phật giáo khi du nhập đến bất kỳ vùng đất nào đều có sự tiếp biến với văn hóa địa phương. Tại Nam bộ, lễ cúng chẩn tế đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa bản địa, đồng thời cũng tạo nhiều ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống cư dân nơi đây. KHÁI NIỆM CÚNG CHẨN TẾ Chẩn tế có nguồn gốc từ chữ Hán, là dùng tiền hoặc thực phẩm, y phục,… để “cứu tế cho dân nghèo đói hoặc gặp tai họa”[1]. Thiền sư Thích Nhất Hạnh có định nghĩa chẩn tế như sau “chẩn” là phân phát; “tế” là cứu giúp, tế độ, đưa người khác ra khỏi hoàn cảnh ngặt nghèo[2]. Trong tâm thức chung của cộng đồng, khi nói đến cúng chẩn tế, mọi người thường nghĩ đến cúng cho người chết, hay hiểu đơn giản “cúng chẩn tế là dâng các loại phẩm vật cho người đã chết”. Tuy nhiên, lễ cúng chẩn tế không chỉ cho người quá cố mà còn đáp ứng yêu cầu của người sống, là một phần trong lễ cầu an và cầu siêu. Về niên đại lễ chẩn tế du nhập Việt Nam, hiện chưa có một tư liệu nào nói chắc chắn. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tác giả Nguyễn Lang cho rằng khoa nghi này do ngài Hứa Tông Đạo từ Trung Hoa truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XIII. Hiện chúng ta còn có một tư liệu do Trúc Lâm Đệ tam tổ Huyền Quang soạn là “Pháp sư đạo tràng công văn cách thức thủy lục chư khoa”. QUY TRÌNH THỰC HIỆN LỄ CÚNG CHẨN TẾ Quy trình này được sử dụng trong lễ cúng kỳ siêu bạt độ, dành cho những vong hồn đang chịu khổ ở địa ngục hoặc chết oan ức. Nghi thức chẩn tế cô hồn ở Việt Nam hiện gồm ba loại Đại khoa, Trung khoa và Tiểu khoa còn gọi là Tiểu Mông Sơn. Chữ “khoa” ở đây có thể hiểu là trình tự, các bước tiến hành nghi lễ. Đại khoa hay còn gọi là Khoa Du Già, được thực hiện ít nhất 6 giờ đồng hồ. Trung khoa là phần lược của Đại khoa, gồm hai phần Đàn thượng và Đàn hạ. Đàn thượng là các nghi thức nhập đàn, ấn chú, chân ngôn; còn Đàn hạ là phần thỉnh Thập loại cô hồn. Tiểu khoa là nghi lễ cúng cô hồn vào mỗi buổi chiều tại các chùa theo Phật giáo Bắc tông. Đây vốn xây dựng theo tinh thần của Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh, sau này được phát triển thêm với tên gọi mới “Mông Sơn Thí Thực Nghi”, nghĩa là ngoài việc chú trọng cúng thí thức ăn, còn có phần quy y và thuyết giảng cho vong linh nghe. Trong các đàn Đại khoa và Trung khoa đều có phần “nhập Tiểu Mông Sơn”, chính là nghi thức Tiểu khoa này. Lễ cúng chẩn tế có hai phần chính là mật pháp và hiển pháp. Trong đó, mật pháp thuộc về các ấn chú và quán tưởng. Hiển pháp gồm các bài kinh chú, hành động cử chỉ… mà mọi người có thể thấy và hiểu được. Sự gia giảm trong các đàn chủ yếu ở phần hiển pháp, riêng tâm pháp tuyệt đối không được lược giảm. Một ban kinh sư thường có 5 – 7 vị gồm Sám chủ hay Đàn chủ, Đàn cả hoặc Thầy cả; Duy na kinh sư đánh chuông; Duyệt chúng kinh sư gõ mõ; Vĩ thuận và Vĩ nghịch hai vị kinh sư đánh đẩu; Bốn Trung phan các vị kinh sư tụng kinh, hòa, tán; Phi chung kinh sư đánh chuông lớn; Phi cổ kinh sư đánh trống lớn. Lễ Thượng phan Sơn Thủy Để triệu thỉnh tất cả hương hồn đã vong thân trên không, trên lộ, dưới nước về tại địa điểm có cây phan. Sau đó, sẽ được đưa vào đàn tràng để tham dự pháp hội, nghe pháp âm của Đức Phật mà tỉnh ngộ để thoát khỏi cảnh khốn cùng. Nghi thức Kiết giới Đàn tràng Cả dưới đất lẫn trên không đều quy định khu vực đàn tràng, kiết giới là biến đổi nơi lập đàn tràng thành chốn trang nghiêm thanh tịnh. Lễ Hạ phan Sơn Thủy Thỉnh chư hương linh dựa vào Thần Phan, theo tiếng niệm Phật tiếp dẫn để an tọa tại đàn tràng. Lễ Hưng Tác Thượng đại Tràng phan Sau khi an vị Phan Sơn Thủy xong, lễ Hưng Tác bắt đầu để cáo với giang sơn, hồn thiêng đất nước, chư Hộ pháp Long thần và Thổ địa Tôn thần tại nơi diễn ra buổi lễ biết rõ thời gian, địa điểm tổ chức trai đàn. Đồng thời, hướng dẫn âm linh cô hồn về dự trai đàn, theo lời triệu thỉnh trong Đại Tràng phan dài 36m, được viết bằng chữ Hán trên giấy ngũ sắc. Lễ Bạch Tổ, Bạch Phật, Khai Kinh Cung thỉnh chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức quang lâm bảo điện để cung hành nghi lễ, Thỉnh Tiêu Diện Đại Sĩ. Lễ Giải Oan Bạt Độ Là nghi thức giải oan đoạn nghiệp. Đây là giây phút người sống và kẻ chết đều mong mỏi. Trước giờ hành lễ, tất cả trai chủ, Phật tử đều tập trung đầy đủ tại chánh điện hoặc nơi làm lễ để cung thỉnh vị Sám chủ và Ban kinh sư quang lâm cử hành lễ. Trong lễ Bạt Độ, đặc biệt nhất là nghi thức phá ngục để cứu hương linh đang chịu khổ trong đó ra. Khi ấy sẽ có một vị tu sĩ hoặc người đời đóng vai chèo đò đưa các thầy sang sông cứu vớt hương linh. Nghi thức này không phổ biến, chỉ khi nào gia chủ có nhu cầu và thường được thực hiện ở miền Trung. Ở miền Nam thay vào đó là nghi thức Phát Tấu, gồm phần Xá Hạc chim Hạc và Xá Mã ngựa, nhờ hai con vật này chở tấu chương về tâu các nơi như thiên đình và thủy cung. Đại lễ Trai đàn Chẩn tế Các vị Gia Trì Sư và kinh sư sẽ cung hành nghi thức Tham lễ Giác Hoàng lễ Phật. Tham lễ xong, vị Gia Trì Sư và chư vị kinh sư đi trước; gia chủ và những người khác đi sau ra ngoài đàn, đến trước án Tiêu Diện, Địa Tạng, Ngũ Phương Phật để cung thỉnh chư Phật chứng minh đàn tràng. Tiếp theo, đến Bàn Giác Hoa tiến hành nghi thức thỉnh vị Gia Trì Sư lên bảo tọa, thay Phật thuyết giới cho âm linh cô hồn. Sau đó, Ngài kiết ấn, niệm chú vào sư tử tòa, bảo tọa, màn song khai và chính tự thân trước khi ngồi kiết già trên bảo tọa. Màn song khai mở ra, nghi thức chẩn tế bắt đầu sái tịnh, cung thỉnh chư Phật và Bồ tát chứng minh, thỉnh chư hương linh và 12 hạng cô hồn cùng đến dự. Tiếp theo là nhập Tiểu Mông Sơn để biến hóa thức ăn phù hợp và dư đủ cho các hạng cô hồn dùng. Sau đó, sẽ rưới nước Cam lộ, vị Tả chức nhận bình nước đã làm phép từ Sám chủ đi từ từ đến phía trước và rưới nước. Tại vị trí đó, nhiều Phật tử chuẩn bị sẵn vật dụng để hứng nước Cam lộ[3]. Tiếp theo là hồi hướng công đức, cầu cho tất cả chúng sanh an lành, sanh về cực lạc. Sau khi hạ đàn, chư Tăng trở về nội đàn, đến bàn Phật làm lễ Tạ Phật hoàn Kinh, lễ đến đây hoàn mãn. Ngoài ra, lễ cúng còn có các phần phóng đăng, phóng sinh… BỐ TRÍ ĐÀN TRÀNG TRONG LỄ CÚNG CHẨN TẾ Được chia thành hai phần nội đàn và ngoại đàn. Nội đàn gồm Bàn Phật chùa có chánh điện, tư gia có bàn thờ Phật là nơi tham lễ Giác Hoàng; bàn kinh nơi để chuông, mõ, pháp khí. Ngoại đàn gồm Màn Sư tử tòa bức màn có hình sư tử dáng vẻ oai nghiêm, treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật; Bảo tọa chỗ ngồi của Gia Trì Sư, đại diện chư Phật để hoằng dương chánh pháp; Màn song khai bức màn chia đôi trước bảo tọa, đóng lại hoặc mở ra tùy theo quy định của khoa nghi; bàn Kim đài kinh sư ngồi hai bên tả hữu, mỗi bên ba hoặc bốn vị; Bàn Giác Hoa Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một Đức Phật ở cõi Ta bà; các án Ngũ phương Phật gồm năm bàn thiết trí theo hướng Đông – Tây – Nam – Bắc và Trung ương; bàn Hộc thực vị trí thấp, để bài vị và đồ cúng cô hồn; bàn Tiêu Diện cao hơn bàn Địa Tạng, thiết trí ba tượng Địa Tạng, Tiêu Diện và Hộ Pháp nên còn gọi là bàn Tam Bảo ngoại. Vật phẩm trong đàn cúng chẩn tế chia làm hai phần 1. Cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, thần thánh… triệu thỉnh chư hương linh, vong hồn. 2. Vật phẩm cúng thường có 6 loại hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, gọi chung là lục cúng. Thức ăn cúng Phật chỉ gồm đồ chay, thường là cơm và xôi chè. Riêng với thần thánh thì tùy người tổ chức, có thể cúng cả chay và mặn, ngoài ra còn có lá phan và bảo cái. Thực phẩm cúng cho nhóm đối tượng thứ hai rất đa dạng. Ngoài hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, còn có một số khác bắt buộc, như gạo, muối, cháo loãng, cốm nổ, xôi chè, tiền cúng, mía, các loại khoai,… tùy vào gia chủ mà có thêm vàng mã. Riêng miền Bắc sẽ có oản. Tùy điều kiện gia chủ, có thể thêm nhiều đồ cúng khác như kẹo bánh, áo quần thật. Vật cúng có thể treo lên “cộ” giá đỡ hình chóp, bằng tre, dán giấy bên ngoài hoặc xếp trên mâm và bàn. Đặc biệt, nghệ thuật diễn xướng trong lễ cúng là đỉnh cao về nghệ thuật diễn xướng của âm nhạc Phật giáo. Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Khê, “… nét nhạc của các bài tụng, tán thay đổi tùy theo miền, theo vùng. Mà thang âm, điệu thức dùng trong những bài tán, tụng rất gần thang âm điệu thức của tiếng hát ru và những điệu dân ca đặc biệt của mỗi vùng…. Có hai điệu thức chính được dùng điệu Thiền dùng hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc tài tử miền Nam và điệu Ai. Các điệu thay đổi tùy theo nội dung bài” [4]. Trong một lễ cúng, về phía ban kinh sư, một vị đàn chủ phải đầy đủ oai nghi phẩm hạnh, chất giọng tốt, am tường chữ Hán và nghệ thuật diễn xướng. Các lối diễn xướng được sử dụng trong lễ cúng gồm Bạch, Nói, Thỉnh, Nguyện, Đọc, Tụng, Vịnh, Tán. Để một lễ cúng chẩn tế thành công, phải đầy đủ yếu tố hình thức và tâm thức. Về hình thức, đây là lễ cúng theo nghi thức quỷ của Mật tông Tây Tạng, nên đàn tràng phải đúng pháp thức của khoa nghi Mật giáo. Về tâm thức, ban kinh sư và gia chủ cùng những người tham gia phải có sự chuyên tâm. Đàn tràng càng đông người thuộc mọi giới tham dự, càng vận động được nhiều sức mạnh ủng hộ của tập thể. Trong lễ cúng, nếu gia chủ và những người đến dự đều vui vẻ, hài lòng, toàn tâm toàn ý cầu nguyện, kết hợp với sự tinh chuyên của ban kinh sư sẽ giúp ích cho cả người sống lẫn người chết. Ở miền Trung và miền Nam, lễ cúng chịu ảnh hưởng dòng thiền Lâm Tế. Nhà sư Nguyên Thiều và các đệ tử là những người đầu tiên đưa lễ này vào Đàng Trong. Tại đây, lễ cúng chủ yếu dựa vào bản kinh “Chánh khắc Trung khoa Du Già tập yếu”, rút gọn từ “Du Già diệm khẩu thí thực đàn nghi” của sư Vân Thê Châu Hoằng. Tùy từng vùng, lễ cúng còn chịu ảnh hưởng của thổ âm địa phương. Trang phục và pháp khí trong lễ cúng chẩn tế Nam bộ cho thấy hiện tượng giao lưu văn hóa mạnh mẽ và mang đậm dấu ấn vùng miền. ẢNH HƯỞNG CỦA LỄ CÚNG CHẨN TẾ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA PHẬT TỬ NGƯỜI VIỆT NAM BỘ Nam bộ với điều kiện tự nhiên và thành phần dân cư đa dạng đã hình thành những đặc điểm văn hóa khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử. Đồng hành với quá trình phát triển đó, lễ cúng chẩn tế cũng đóng góp những giá trị thiết thực vào đời sống nhân dân nói chung và Phật tử nói riêng. Trong đời sống cá nhân Quan niệm coi trọng người đã khuất, các bậc tiền bối,… đã chứng minh cho tấm lòng thương nhớ, tính nhân bản của con người. Đó còn là sự cầu mong cuộc sống bình an, thể hiện yếu tố trọng lý và trọng tình trong văn hóa phương Đông. Mặt khác, tâm lý tiếc thương người thân đã mất đưa đến suy nghĩ người thân có thể đang chịu cảnh thiếu thốn, khổ đau và cần sự giúp đỡ. Với cư dân Nam bộ, đặc biệt ở buổi đầu đất rộng người thưa, nhiều thú dữ và bệnh dịch, mối quan hệ giữa các thành viên gia đình do vậy rất quan trọng. Sự ra đi vĩnh viễn của bất kỳ thành viên nào cũng khiến gia đình hụt hẫng, trống vắng. Ngoài ra, việc thường xuyên di chuyển chỗ ở khiến mồ mả người thân không có điều kiện trông nom. Vì vậy, việc tổ chức lễ cúng tưởng nhớ người thân đã khuất, cầu mong được cảm thông và tha thứ, mong giải tỏa oan khuất, dằn vặt, cầu nguyện cho họ được thanh thản siêu thoát, cầu xin người đã khuất phù hộ cho người sống bình an vô sự là chuyện nên làm khi điều kiện cho phép. Trong đời sống cộng đồng Ở cư dân nông nghiệp, yếu tố cộng đồng rất quan trọng, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Lễ cúng chẩn tế để cầu an hay cầu siêu, dù do cá nhân hay tập thể tổ chức, cũng phải đủ ba hoạt động cúng Phật, cúng những vị thần ở địa phương diễn ra lễ cúng thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và cúng hương linh, vong linh, tri ân các anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn trong các cuộc chiến tranh và thiên tai bão lũ, cầu mong cho họ được sanh về cảnh giới an lành. Đặc biệt, trong các lễ cúng do cá nhân tổ chức, ngoài tên của người được cúng chính và ông bà tổ tiên gia chủ, những người đến tham gia cũng được khuyến khích gửi tên thân nhân của mình để cầu siêu. Về tâm linh, một gia đình hay tập thể tổ chức lễ cúng thì lợi ích cho cộng đồng lớn hơn, chứ không đơn thuần chỉ cho đối tượng được xướng danh, như người xưa có câu “nhất nhơn tác phước thiên nhơn hưởng, độc thọ khai hoa vạn thọ hương” một người làm việc tốt nhiều người hưởng chung, trong vườn có cây hoa nở hoa thì cả vườn thơm lây. Về thực tế, khi tổ chức một lễ cúng cần huy động rất nhiều người, ngoài những người gửi tên cầu siêu ra, những người không gửi hoặc là Phật tử cũng có thể đến giúp đỡ. Trong khi cử hành lễ cúng, về lý, vị Sám chủ đội mão Tỳ lư, mặc y gấm, là hình ảnh Bồ tát Địa Tạng đại diện cho Phật thuyết pháp và bố thí thức ăn cho vong hồn. Nhưng ở góc độ phi tôn giáo, hình ảnh thầy sám chủ mặc trang phục đẹp, ban kinh sư dùng pháp khí với nhạc lễ xung quanh,… tất cả những yếu tố đó tựa như một hình thức diễn xướng nghệ thuật. Không chỉ đối với Phật tử người Việt, lễ cúng chẩn tế còn là cơ hội giao lưu giữa các cộng đồng cư dân Chăm, Khmer, Hoa, Việt… trên vùng đất Nam bộ. Về tôn giáo, lễ cúng chẩn tế thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo. Một việc làm vì nhiều người, không chỉ riêng cho cá nhân nào. Một lễ cúng không chỉ phục vụ nhu cầu thiết thực của gia chủ, mà còn hướng lợi ích an lạc cho nhiều đối tượng khác. Có thể nói, được truyền vào Nam bộ từ thuở sơ khai, lễ cúng chẩn tế đã tồn tại và tiếp sức người dân và những Phật tử nơi đây. Trong đời sống, với hoàn cảnh khó khăn ở vùng đất mới, việc tổ chức cầu an, cầu siêu giúp người sống vơi bớt phần nào khổ đau, mất mát. Những hiểm họa bất an nơi vùng đất mới hoang vu cũng làm cho người dân canh cánh nỗi lo, nỗi sợ hãi, việc tổ chức lễ cúng chẩn tế ngoài mong muốn giúp người chết giải thoát, còn là khát vọng cho người sống được yên ổn, tránh bệnh tật và làm ăn thuận lợi. Lễ cũng là cơ hội để mọi người có dịp gần gũi, tìm hiểu và thông cảm nhau hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, những tiết tấu diễn xướng trong lễ cúng cũng góp phần làm cho cuộc sống người dân bớt đi sự buồn tẻ nơi đất lạ. Tồn tại và phát triển ở Nam bộ, lễ cúng chẩn tế tiếp thu những yếu tố văn hóa địa phương, đồng thời chịu tác động từ các yếu tố khác như hoạt động kinh tế, bối cảnh chính trị – xã hội, điều kiện tự nhiên,… Lễ cúng chẩn tế cũng phần nào phản ánh mối quan hệ, giao lưu, tiếp biến văn hóa của các cộng đồng dân tộc cùng sống cộng cư hoặc cận cư ở Nam bộ. Chú thích * Đào Ngọc Lam Phương – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG TP HCM. [1] Hoàng Phê chủ biên 2006, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, [2] Thích Nhất Hạnh 2007, Đại trai đàn bình đẳng tế xuân Đinh Hợi 2007 tại Việt Nam, [3] Quan niệm cho rằng nước Cam lộ giúp người uống hoặc sử dụng được khỏe mạnh. [4] Trần Văn Khê 2001, Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, đăng trên Nguyệt san Giác ngộ số 59, 2/2001, Tài liệu tham khảo 1. Dương Chí Cang 2000, Nghiên cứu chế độ lễ nghi Trung Quốc, Nxb ĐHSP Hoa Đông. 2. Trần Văn Khê 2001, Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, đăng trên Nguyệt san Giác ngộ số 59, 2/2001. 3. Hoàng Phê chủ biên 2006, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 4. Trần Hồng Liên 2007, Quá trình hình thành và phát triển nhạc lễ Phật giáo Nam bộ, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Sư Nguyệt Chiếu với sự nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam bộ”, Nxb Văn hóa Thông tin.
Trong các lễ cúng thí Cô hồn, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật Giáo Đại thừa Mật Tông được gói trọn vào hình thức, trai đàn nầy dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn đà la mandala. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn nầy là căn bản vũ trụ luận của Mật Giáo. Thông thường có hai bộ mạn đà la. Kim Cang giới mạn đà la Vajradhàtu-mandala biểu tượng cho trí huệ sở chúng của Phật. Thai tạng giới mạn đà la garbhadhàtu-mandala biểu tượng cho phương tiện độ sanh của Ngài. Mỗi mạn đà la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sauTrước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng tập họp lại thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi năm yếu tố, gọi là năm đại địa, thủy, hỏa, phong và cơ sở giáo nghĩa nầy, trước hết mạn đà la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí huệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đó kim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hóa yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là kim cang bất hoại thân vajrasauhatanakàya. Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí. Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như Lai tương ứng, tức Ngũ Trí Như Lai, hay năm vị Thiền Phật sẽ nói rõ ở phần Ngũ Phương Phật. Sau đây sẽ mô tả sơ lược một trai đàn chẩn tế từ trong ra ngoàiTừ trong ĐÀNBàn Phật Tại chùa có Chánh điện, tại tư gia có Bàn thờ Phật là nơi Tham Lễ Giác HoàngBàn kinh Nơi để nghi thức, chuông mõ, pháp ĐÀNMàn Sư tử tòa Sư tử tòa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất. . . thì những chỗ đó đều gọi là Sư Tử Tòa. Vậy bức màn Sư Tử Tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Tọa chỗ ngồi của Gia Trì Sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương Chánh pháp. Theo khoa nghi, trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất trang nghiêm. Sau khi cung thỉnh Ngũ Phương Phật xong , vị chủ sám đến đứng trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng ở vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh Vị Gia Trì Sư đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Sau khi vị Gia Trì Sư đáp lại và xin chư Phật cho phép đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống bát nhã bằng động tác vỗ vũ xích, chuông trống bát nhã cử hành, Vị Gia Trì Sư quay về trái đi lên bảo tòa. Kinh sư vào vị trí bàn kim song khai Trước bảo toạ là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo lúc qui định trong khoa kim đài Kinh sư ngồi hai bên tả hữu mỗi bên ba hay bốn vị. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có một vài sự đổi thay nhỏ tùy vùng xử dụng tang và mõ. Huế, kinh sư ngồi ghế để đầu trần. Bình Định, kinh sư ngồi xuống chiếu, đầu đội tỳ lư, xử dụng 2 đẩu giống cái tang nhưng không có cán và mõ. Miền nam, kinh sư ngồi ghế đầu trần, xử dụng 2 đẩu và Giác Hoa Giác hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời qúa khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có một cô gái Bà la môn, nhơn mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gái ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh điạ ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Địa Tạng Bồ án Ngũ phương Phật Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật Tông, Ngũ phương Phật là sự phối hợp giữa Ngũ phương, Ngũ Trí, Ngũ Phật, Ngũ Bộ và Ngũ Hành trong Thai Tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Theo sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay trong Trung Khoa Du Già Tập Yếu khắc bản năm Mậu Tý triều Vua Đồng Khánh và bài viết “LỄ THÁNG BẢY cho những oan hồn phiêu bạt” của Thầy Tuệ Sĩ, đàn tràng Chẩn tế tại Việt Nam được cung trần theo Kim Cang Giới Mạn Đà La. Chúng tôi xin trình bày khái quát như sauKim cang giới mạn đà la là thuyết minh hoạt dụng của trí huệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn đà la nầy. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân candramandala. Bên trong hình tròn nầy thiết lập các biểu tượng của năm vị Như Trung ương Chính giữa là vị trí Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tức Đại Nhật Như Lai Mahà Vairocana – Tathàgata hiển thân sắc màu vàng, đối diện với bàn Giác Hoa. Đó là Pháp thân Phật Dharmakàya Buddha, như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại àkàzadhàtu, và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh phương chung quanh Ngài Đại Nhật Như Lai là vị trí của bốn đức Như Lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc mà quý vị trong khoa Chẩn Tế thường nói cho dễ nhớ Tả Đông, Nam. Hữu Tây; Bắc từ trong đi ra theo chiều kim đồng hồ, tức bên tay trái là phương Đông và Nam, bên tay phải là phương Tây và Bắc như sauÁn Phương Đông A Súc Phật Akwobhya hay Bất Động Như Lai, hiển sắc thân màu xanh, trở mặt vào án Trung ương với các biểu tượng Phong đại vàyu-dhàtu, nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn động cơ tạo tác của các loại hữu tình; Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế Phương Nam Bảo Sanh Phật Ratnasambhava, hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào Trung ương với các biểu tượng Hỏa đại tejo-dhàtu, khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sanh và thế giới; tưởng uẩn, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; Bình đẳng tánh trí, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và PhươngTây A Di Đà Phật Amitabhà, hiển sắc màu trắng, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Thủy đại, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; Diệu quan sát trí, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy Phương Bắc Bất Không Thành Tựu Phật Amoghasiddhi, hiển sắc màu đen, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Địa đại, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn, tác thành thế giới hữu tình; Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sau Ngũ phương Phật làBàn Địa Tạng đồng hướng với Trung ươngBàn hộc thực thấp, để đồ cúng Cô hồnBàn Tiêu Diện cao hơn bàn Địa Tạng Nguyên Hòa Permalink HTML code to copy to your site or email messageClick below to select, Ctrl + C to Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn
Đám cưới hỏi mỗi vùng miền theo phong tục truyền thống lại có những đặc trưng khác nhau. Để tránh những sai sót thì cô dâu chú rể nên tìm hiểu kĩ trước khi tổ chức hôn lễ. Sau đây, Venus xin “mách nước” đặc trưng lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung để bạn có sự chuẩn bị chu đáo nhất nhé! Người miền Trung chăm chỉ, thật thà, gần gũi và mộc mạc. Chính vì thế, lễ ăn hỏi của người miền Trung cũng đơn giản hơn so với miền Bắc và Nam. Họ coi trọng lễ nghi nhưng lễ vật lại coi nhẹ. Nhà trai có thể chuẩn bị mâm lễ ăn hỏi đơn giản nhưng cần nắm rõ các thủ tục, nghi thức trong lễ ăn hỏi để làm hài lòng họ nhà gái. Xem thêm Lễ ăn hỏi 7 tráp Lễ ăn hỏi 9 tráp >>> Click ngay để không bỏ lỡ những thông tin hữu ích về dịch vụ tráp ăn hỏi, tráp dạm ngõ tại Venus. Lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung gồm những gì? Thông thường, người miền Trung lựa chọn số lượng tráp lễ là 5 trong đám ăn hỏi. Vậy lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung gồm những gì? 1. Tráp trầu cau Dù ở bất kì vùng miền nào thì tráp trầu cau không thể thiếu vì nó có ý nghĩa truyền thống dân tộc tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng gắn bó. Mâm lễ gồm buồng cau kết cùng những lá trầu kết hợp trang trí hoa tươi, phụ kiện tạo vẻ đẹp mắt, sang trọng cho mâm lễ. Đối với người Huế, bạn nên lưu ý trên mâm tráp trầu cau cần có thể gừng và muối để thể hiện lời hứa hẹn ước chung thủy, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc sống. 2. Tráp bánh phu thê Lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung bắt buộc phải có tráp bánh phu thê. Loại bánh thể hiện cho tình cảm vợ chồng chung thủy với nhau đến hết cuộc đời. Bánh được xếp thành từng cặp tượng trưng cho đôi uyên ương. Số lượng bánh phải là số chẵn và không có yêu cầu về số lượng. Đây là nét đặc trưng của người miền Trung. 3. Chè, thuốc và rượu Tráp lễ thứ 3 không thể thiếu đó chính là chè, thuốc, rượu được xếp chung mang ý nghĩa tượng trưng. Bạn nên tùy chọn số lượng để có mâm tráp đẹp mắt và không quá sơ sài. Hãy chứng tỏ cho nhà gái biết được sự trân trọng mà gia đình nhà trai dành cho nhà gái thông qua việc chuẩn bị lễ tráp. 4. Tráp nến tơ hồng Lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung không thể thiếu cặp nến tơ hồng. Trong lễ ăn hỏi, cặp nến tơ hồng sẽ được thắp sáng. Đối với người miền Trung, nghi thức rất cầu kỳ và nhiều nghi thức. Việc chuẩn bị tráp nến tơ hồng đảm bảo cử hành hôn lễ không bị thiếu trước hụt sau. 5. Các lễ vật khác Quan niệm của người Trung sẽ thách cưới nhà trai dựa vào điều kiện kinh tế gia đình. Nhưng thực tế thì mỗi gia đình đều cố gắng chuẩn bị lễ vật cầu kì hơn để chứng tỏ thành ý với nhà gái. Bạn có thể chuẩn bị thêm tráp lợn sữa quay, tráp nem chả hay tiền sính lễ,… Đặc biệt là đối với các cặp đôi trẻ thì nghi lễ, tập tục truyền thống luôn làm họ bối rối. Vì vậy, để lễ ăn hỏi diễn ra thuận lợi, hoàn hảo thì bạn nên cùng người bạn đời của mình cùng nhau tìm hiểu trước Đối với các cặp đôi, các tập tục trong cưới hỏi luôn làm cho họ bối rối. Chính vì vậy, cả hai phải cùng nhau tìm hiểu và chuẩn bị lễ vật đám hỏi để có một lễ hỏi vừa thuận lợi vừa không đi ngược lại với phong tục tập quán truyền thống. Trên đây là những chia sẻ của Venus về đặc trưng lễ ăn hỏi 5 tráp miền Trung. Hy vọng đã giúp ích cho bạn trong việc tìm kiếm thông tin. Nếu còn bất kì thắc mắc nào, đừng ngần ngại gọi ngay cho Venus để được tư vấn và giải đáp tận tình. CÔNG TY SỰ KIỆN VENUS Hotline Website Add Đầu ngõ 133 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
nghi thức chẩn tế miền trung