nghi thuc cung qua duong

NGHI THỨC THỌ TRAI. NGHI THỨC THỌ TRAI. *****. Đại chúng tề tựu, thỉnh 3 hồi khánh, ngồi thẳng chắp tay tụng: BÀI TÁN HƯƠNG. Kim lư vừa bén chiên đàn. Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương. Hiện thành mây báu kiết tường. Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiền. NGHI THỨC QUÁ ĐƯỜNG (đại chúng xếp hàng tuần tự lấy thức ăn xong đến chỗ ngồi xuống. Giữ im lặng sau ba hồi chuông bắt đầu cúng dường. Tay trái bắt Ấn Tam Sơn (ngón giữa và áp út co lại, ngón cái đè. Microsoft Word - Nghi thuc Qua Duong.doc Created Date: 7/3/2020 10:28:16 PM Tuổi Tỵ. Bước qua ngày mới (21/10), con giáp may mắn không những được thần tài chiếu cố mà quý nhân cũng phù trợ nồng hậu, đi đến đâu may mắn theo đến đó, đặc biệt là làm việc gì cũng thành công, thuận lợi, cơ hội trúng số độc đắc, giàu to là rất cao. Những người tuổi Tỵ sẽ được sao Thái Âm Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. NGHI THỨC CÚNG QUÁ ƯỜNG Giới tử đứng trước bàn ăn nghe tiếng khánh chắp tay đồng xá rồi ngồi xuống. Sau nghe ba hồi bảo chúng, đồng tụng bài cúng dường. Tay trái bắt ấn Tâm sơn, tay mặt kiết ấn Tam Muội để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi dâng lên ngang tán đồng tụng bài cúng dường 1-Cúng dường Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật. Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. ương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phaät. Cực Lạc Thế Giới A Di à Phật. Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật. ại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, ại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, ại Bi Quán Thế AÂm Bồ Tát, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Cúng dường rồi để bát xuống 2-Xuất Sanh Giới sư để 1 cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, quyết ấn cam lồ mặc niệm Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa độ lợi ích tá ha. 3 lần ồng tụng Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng3 lần Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô tà bà. 3 lần. Án Nga nga nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng 3 lần Chủ lễ thầm nguyện Nhữ đẳng quỉ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỉ thần cộng. Án mục lăng tá bà ha. 3 lần 3-Tống thực Thị giả ại Bàng Kim Xí iểu, Khoáng dạ quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. 7 lần nghĩa Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần đồng rộng, mẹ của quỉ la sát, cam lộ no đủ cả. 4-Xướng Tăng Bạt Thầy chủ lễ Phật chế Tỷ kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di à Phật. Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng chánh niệm. 5-Hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc Chấp trì Ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra 3 lần. dịch nghĩaTay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận trời người cúng dường 6-Gắp ba miếng cơm rồi thầm nguyện đoạn nhất thiết ác. 2. Nguyện tu nhất thiết thiện. độ nhất thiết chúng sanh. 1. Nguyện dứt tất cả điều ác, 2. Nguyện làm tất cả điều lành, 3. Nguyện độ tất cả chúng sanh. 7-Bắt đầu ăn và thầm quán tưởng Năm pháp quán’ Thứ nhứt Con xin biết ơn người đã phát tâm cuùng dường, sửa soạn những thức ăn này. Thứ hai Con nguyện nổ lực tu học, trao dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này. Thứ ba Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn. Thứ tư Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật. Thứ năm Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ con thọ dụng những thức ăn này. 8-Ăn cơm xong, trước khi uống nước, xin thầm đọc Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha 3 lần. nghĩa Phật nhìn một bát nước, tám vạn tư vi sinh, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. 9-Tụng bài Kiết Trai Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha 7 lần Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích, Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, Ưương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp. 10-Phục nguyện Thầy chủ lễ xướng Thân Phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Phổ Nguyện đàn na tín thí, tăng ích phước điền, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật ạo. ồng niệm ại chúng đồng niệm Nam mô A-Di-à Phật, nghe khánh cùng đứng dậy chắp tay xá và lui ra. 11-Niệm Phật Kinh Hành A-Di-à Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân, Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di, Cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-à Phật. Nam-mô A-Di-à Phật. 108 lần Nam-mô ại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. 3 lần; Nam-mô ại-Thế-Chí Bồ-tát. 3 lần Nam-moâ ại-Tạng Vương Bồ-tát. 3 lần; Nam-mô Thanh-tịnh ại-Hải chúng Bồ-tát. 3 lần Hồi Hướng Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật ạo. Nam Mô A Di à Phật I. DẪN NHẬP Khi đức Phật còn tại thế, Ngài đã quy chế cho cộng đồng Tăng phải an cư ba tháng mùa mưa, ngày nay lịch an cư tùy hệ phái, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy theo truyền thống Phật giáo Bắc phương; từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 theo truyền thống Phật giáo Nam phương. An cư có bốn mục đích chính 1. Mùa mưa, cần an cư cấm túc để tránh dẫm đạp côn trùng, khỏi bị cư sĩ than phiền. 2. Việc an cư mùa mưa đã có trước thời Phật, đức Phật chỉ hợp pháp hóa, Ngài thấy thời gian này là thích hợp để chư Tăng ở yên một chỗ tu tập tiến bộ tâm linh. 3. Biểu hiện tinh thần hòa hợp của cộng đồng Tăng lữ trong cùng một trú xứ. Nhiệm vụ các tỳ-kheo sống chung là phải giáo giới lẫn nhau, chỉ điểm và sách tấn nhau, chứ không thể sống như những người câm. 4. Tạo điều kiện cho Phật tử thân cận gần gũi chư Tăng để học hỏi giáo pháp, gọi là thân cận thiện sĩ.[1] Và trong các bộ luật của chính thống giáo như luật Tứ phần của Pháp tạng bộ, Ngũ phần của Hóa địa bộ không thấy nói gì đến chư Tăng an cư có nghi thức cúng “Quá đường”. Luật Tứ phần ghi chép trong mùa an cư[2] Kết cương giới an cư, phân chia phòng xá, phân chia tọa cụ, ngọa cụ, quy định tiền an cư, hậu an cư, chỉ dạy cách sinh hoạt trong một trú xứ. Hoặc phép tắc xuất ngoại trong thời gian an cư nếu có thí chủ mời, hay vì duyên sự quan trọng được phép đi từ 7 ngày đến 40 ngày, nếu quá bị coi là phá hạ. Và đặc biệt an cư bất cứ nơi đâu nơi ấy phải có thí chủ cung cấp phẩm vật, thực phẩm trong ba tháng. Ngày nay chư Tăng Phật giáo Nam phương linh hoạt, tại Thái Lan các tỳ-kheo vẫn đi khất thực, hạn chế ra ngoài; khóa lễ tu tập nghiêm ngặt hơn. Riêng hệ Phật giáo An nam Tông Annamnikāya, tức Phật giáo Bắc tông tại Thái, an cư theo lịch Việt Nam nhưng sinh hoạt không khác gì ngày thường, không “Quá đường” cúng ngọ; 3 tháng an cư ở trong cương giới, ít đi ra ngoài, không đi quá bảy ngày… II. KHÁI QUÁT NGHI THỨC QUÁ ĐƯỜNG Chúng ta trở lại Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam, an cư ra sao? Căn bản thì an cư sinh hoạt theo luật định nhưng khác biệt là thêm nghi cúng Quá đường trang nghiêm khi thọ trai. Từ “Quá đường 過堂”, xuất xứ trong hai tác phẩm “Thiền lâm tượng khí tiên 禪林象器箋”, là bộ từ điển Phật giáo giải thích về những qui củ, chức vị, lễ tiết, khí cụ… trong thiền môn, do thiền sư Trung Đạo hiệu Vô Trước 1653-1744 dòng Lâm tế Nhật Bản biên soạn, ấn hành năm 1741. Tác phẩm thứ hai là “Thiền lâm bị dụng thanh quy 禪林備用清規”, thiền sư Nhất Hàm biên tập năm 1311 thời nhà Nguyên, nội dung gồm lễ pháp, tụng kinh, tọa thiền, Bách trượng quy cảnh văn, nhật dụng thanh quy…[3]. Từ “Quá đường” được hiểu thông tục là đi qua trai đường dùng cơm. Cả hai tác phẩm này không có chi tiết nghi cúng Quá đường như Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam đang hành trì. Vậy nghi thức ấy từ đâu ra? Chúng ta xem sơ lược lại nội dung “Nghi thức cúng Quá đường”. Đầu tiên bài kệ “chánh thân đoan tọa” và câu thần chú, chúng ta tìm thấy trong nhiều tác phẩm Tỳ-ni nhật dụng lục X60, no. 1114, p. 148b1-3, Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu X60, no. 1115, p. 160a10-12 Bài kệ thứ hai, “triển bát” trong Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu p. 159c6, Sắc tu Bách trượng thanh quy chỉ có bài kệ không có câu thần chú… Những bài kệ tiếp theo Quán không bát quán bát không, Quán thịnh mãn bát quán bát đầy…, hầu như trích dẫn từ Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu. Đặc biệt khi bưng bát cúng dường dẫn từ nguồn “ “Tay trái co ngón giữa và ngón áp, còn ba ngón dựng thẳng để bát lên; tay mặt kiết ấn cam lồ, ngón cái bên tay phải đè lên ngón áp để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi đồng xướng bài cúng dường Cúng dường Thanh tịnh Pháp thân Tì-lô-giá-na Phật, Viên Mãn Báo Thân Lô-xá-na Phật, Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích-ca Mâu-ni Phật, … Ma-ha bát-nhã ba-la-mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường, cũng được gọi là “cử án tề mi”, tức là đưa lên ngang chân mày để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo…” Bài cúng dường trên, từ đoạn “Thanh tịnh Pháp thân… đến Ma-ha bát-nhã ba-la-mật”, trong Thiền lâm tượng khí tiên quyển 17 B19, no. 103, p. 524b1 giải thích đây là danh hiệu Phật lễ lạy công đức khó nghĩ bàn. Từ đoạn “Tam đức lục vị” đến “phổ đồng cúng dường”, nằm ở mục khác trong Thiền lâm tượng khí tiên p. 527a17, là bài kệ đọc chú nguyện lúc dùng cháo. Đoạn “Nhược phạn thực thời… pháp hỷ sung mãn”, trong kinh Hoa nghiêm T10, no. 279, p. 71c17, Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ ký quyển 2 X60, no. 1116, p. 189a18… Như vậy toàn văn bài cúng dường là sự tổng hợp và nghi thức kết ấn dâng bát, trong sử liệu Hán truyền hiện còn chúng ta không thấy nói. Nhiều nhà Phật học Việt Nam cho rằng nghi thức cúng “Quá đường” bắt nguồn từ Trung Quốc, nhưng không ai để ý nội dung tại sao có sự sai khác như vậy? III. NGHI THỨC THỜI BÁCH TRƯỢNG Ngược dòng lịch sử, thời kỳ đầu Phật giáo du nhập Trung Quốc, Tăng nhân vẫn đi khất thực nhưng đến thời Đông Tấn An đế năm 405, bắt đầu các nhà sư làm ruộng, bỏ khất thực, với nhiều lý do Thứ nhất, việc khất thực không hợp với một xã hội rộng lớn và xem trọng lao động. Thứ hai Tăng đoàn phát triển, nhiều tu viện ở nơi xa xôi hẻo lánh khó dựa vào việc khất thực, đồng thời từ thời Nam Bắc triều, hoàng tộc và quý tộc đã bố thí cho Tăng chúng ruộng đất, không trực tiếp cúng dường thức ăn, cho nên Tăng chúng tổ chức phương thức sản xuất tự cung tự cấp. Lý do đó, đến đời Đường, thiền sư Mã Tổ kiến tạo tùng lâm, thiền sư Bách Trượng chế tác thanh quy, chính thức mở ra một hình thức sinh hoạt mới trong Tăng đoàn Trung Quốc. Thời Bách Trượng 720-814, nghi thọ trai như sau[4] “Khi nghe bản đánh không được vào Trai đường liền, mà nên sai hành giả đi lấy bát… vào trai đường ngồi xuống ghế phải xá chào người bên cạnh, chớ để y ca-sa vướng vào mép ghế… Nghe tiếng kiền-trùy tưởng niệm “Phật sinh Ca-tì-la… nhập diệt Câu-hi-la”. Chuyển bát đọc “Ứng lượng khí bát của Phật con nay mở ra… tam luân không tịch.” Khi nhận thức ăn, tưởng niệm Khi nhận thức ăn, Nguyện cho chúng sanh, Ăn bằng thiền duyệt, Tràn đầy an vui. Trước khi ăn quán năm điều ngũ quán 1. Xem cơm mình nhiều ít xứng của người đem lại. 2. Xét đức hạnh mình đủ thiếu nhận cúng dường. 3. Ngăn lỗi lầm của tâm tham khi ăn. 4. Thức ăn này là thuốc hay để chữa thân gầy. 5. Vì thành đạo nghiệp nên nhận thức ăn nầy…” Chúng tôi toát yếu ý chính như thế. Hiện nay, nghi thức cúng “Quá đường” của Phật giáo Bắc tông cả Việt Nam và Trung Quốc hay Đài Loan gần như nhau, chỉ khác là ở Việt Nam có nét đặc thù là lúc đọc bài cúng dường kết ấn bưng bát cơm dâng lên. Vậy ai là tác giả cải biên hiệu chỉnh nó? IV. THIỀN SƯ NGUYÊN BIỂU Theo sử gia Lê Mạnh Thát chứng minh, chính thiền sư Nguyên Biểu biên soạn nghi thức cúng “Quá đường”. Khi thiền sư Nguyên Biểu soạn Thọ giới nghi quỹ, ngay quyển 1 sau phần Yết-ma, ông đã chọn Tịnh độ sám nguyện nghi của Tổ sư Từ Vân 964-1032 để đưa vào sám hối. Đặc biệt giữa những tờ 21b1-22b8, có chép thêm phần Cúng dường pháp. Đây là nghi thức cúng dường mà về sau trở thành nghi thức Quá đường của chúng Tăng ở cả ba miền Trung Nam Bắc trong mùa an cư với một vài cải biên cũng như Nghi thức cúng ngọ tại các chùa trong cả nước.[5] Thiền sư Nguyên Biểu 1836-1906 sinh ra dưới triều vua Minh Mạng, thọ sa-di năm 1852, thọ giới cụ túc năm 1855. Ông là người có công chấn hưng Luật học và tổ chức giới đàn tại miền Bắc trong giai đoạn này Phía Nam, từ Quảng Bình trở vào, do Luật sư Pháp Chuyên Diệu Nghiêm [1726-1798] chấn hưng. Thiền sư viết Thọ giới nghi quỹ và Chư kinh nhật tụng tập yếu để sử dụng. Khi viết Thọ giới nghi quỹ, thiền sư đã dựa vào hai bộ Yết-ma chính, là San bổ tùy cơ Yết-ma huyền ti sao của Đạo Tuyên và Đức Thành và Yết-ma chỉ nam của Hàm Tế – Chiêu Minh. Còn Chư kinh nhật tụng tập yếu, ông dựa vào bản Chư kinh nhật tụng lưu hành phổ biến ở Trung Quốc. Tóm lại, sau khi Bách Trượng thanh quy ra đời, các tác phẩm Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu Độc Thể [1601-1679, cuối đời Minh đầu đời Thanh] soạn, Tỳ-ni nhật dụng lục Tánh Kỳ soạn thời Minh tất cả đều y cứ vào thanh quy ấy mà phát triển thêm; kể cả Thiền lâm tượng khí tiên và Thiền lâm bị dụng thanh quy cũng sưu tập từ Bách Trượng thanh quy. Cho nên nghi thức cúng “Quá đường” của thiền sư Nguyên Biểu có chút giống Phật giáo Trung Quốc, chỉ cải biên thêm nghi thức kết ấn dâng cơm cúng Phật. V. KẾT LUẬN Nghi thức cúng “Quá đường” là một nét đẹp trong thiền môn của Phật giáo Bắc tông; tuy nhiên truyền thống này ảnh hưởng từ “Bách Trượng thanh quy”. Thiền sư Bách Trượng đã xây dựng một hệ thống riêng biệt cho giới luật thiền tông, hệ Phật giáo Bắc tông thừa hưởng cái “cốt tủy” của nó suốt một thời gian khá dái, song dần dà Tăng chúng tôn vinh vẻ “hình thức” hơn là việc tu tập theo giới luật Thanh văn của Phật chế. Do vậy mà ngày nay, nhiều ngôi chùa Bắc truyền trọng thị nghi thức cúng “Quá đường”, bắt buộc chư Tăng trong ba tháng an cư phải luôn có mặt, sau giờ cúng “Quá đường” muốn đi đâu tùy ý. Việc an cư cấm túc, tu tập thiền tư bị xem nhẹ và tổ chức giảng dạy cho Phật tử gọi là “thân cận thiện sĩ” cũng trắng hoàn toàn, chỉ giữ truyền thống hằng đêm có Phật tử vân tập về chùa tụng niệm nhưng lời kinh Phật nói gì thì như cảnh trong sương, khi mờ khi tỏ. Trong lịch sử, ở Trung Quốc giới luật Thanh văn từng bị coi thường, mãi đến thế kỷ thứ XVI, Vân Thê và Đức Thanh mới chỉnh đốn lại giới luật Thanh văn. Giống như tại Việt Nam, trước thời Pháp Chuyên và Nguyên Biểu, giới luật Phật giáo chỉ lấy Bồ-đề tâm giới hay Bồ-tát tâm tức giới thập thiện làm chính. Nguyện đem công đức này hồi hướng đến sự thanh tịnh cho Tăng-già, cho tứ chúng đồng tu trong mùa an cư Phật lịch 2567 thành tựu viên mãn. Tâm Nhãn [1] Tuệ Sỹ- Yết-ma yếu chỉ, ch. vi. An cư và tự tứ, tr. 284. [2] Tứ phần p. 830b7 – 835c5. [3] Phật quang đại từ điển p. 6466 & 禪林象器箋 [4] Sắc tu bách trượng thanh quy 勅修百丈清規 卷6, T48, no. 2025, p. 1144c18 & 漫談佛教的齋飯 [5] Lê Mạnh Thát – Vị trí của thiền sư Nguyên Biểu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XIX và sau đó file word do tác giả cung cấp. Bài TỲ-KHEO NGUYÊN TẠNG Sau đây là nghi thức Cúng Quá Đường trong thiền môn, được xem là nghi thức dùng cơm trong chánh niệm, áp dụng cho tất cả các bữa ăn khác, hành giả cần phải phải thuộc lòng các bài kệ chú để áp dụng trong bữa ăn để giúp mình giữ gìn chánh niệm, không tạp tưởng, mơ màng trong lúc ăn là mục đích chính. Sau khi hành giả vào trong trai đường, nghe thầy Chứng Minh nhịp ba tiếng chuông, chấp tay xá một xá và ngồi xuống, khi nghe một tiếng khánh, mở nắp bình bát ra, cắm chiếc muỗng quay ra phía ngoài vào cơm trong bình bát, sau đó nghe chuông hành giả tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải kiết ấn cam lồ ngang miệng bình bát hay bát cơm để tụng bài cúng dường Cúng dường Thanh Tịnh Pháp Thân Tì Lô Giá Na Phật,Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật,Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật,Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật,Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật,Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật,Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Dâng cơm lên trán và bắt ấn cúng dường để biểu tỏ lòng tôn kính ba ngôi Tam Bảo. Cúng dường xong để bát xuống, liền xoay hướng muỗng vào bên trong, với ý nghĩa, phần cơm dành cho mình, còn trước khi cúng, quay muỗng ra ngoài là để dâng cúng mười phương Tam Bảo. Thiền Viện Chân Nguyên hmd Tay phải kiết ấn cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi, như hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình cam lồ, tay bắt ấn để ban rải lòng từ bi để cứu khổ chúng sanh. Tay trái kết ấn Tam Sơn biểu trưng cho Giới Định Tuệ, là ba môn vô lậu học, một môn học có thể đưa hành giả đi vào đường giác ngộ. Ta thấy trong nghi cách dâng bát cơm cúng dường này đã gói gọn ý nghĩa từ bi và trí tuệ, là hai yếu tố quyết định quan trọng trong đời mình, hạnh phúc hay đau khổ cũng chính từ đây mà có. Từ bi là lòng thương không có điều kiện, và trí tuệ là trí hiểu biết không nhiễm ô, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả, ai thành tựu được pháp hành này, người ấy luôn sống an lạc tự tại dung thông ngay trong hiện tại và mai sau, tất nhiên, con đường dẫn đến giải thoát sinh tử luân hồi đã ngắn dần ở phía trước. Tiếp đó, thầy Chứng Minh để một cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, kiết ấn cam lồ và mặc niệm Pháp lực bất tư bi vô chướng liệp biến thập thí châu sa độ lợi ích tá ha 3 lần Sau đó đại chúng đồng tụng bài biến thực biến thủy chơn ngôn – Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng 3 lần. – Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. 3 lần. – Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng 3 lần. Thầy Chứng Minh thầm nguyện Nhữ đẳng quỉ thần kim thí nhữ thực biến thập thiết quỉ thần mục lăng tá bà ha. 3 lần. Theo sau là Thị Giả tống thực, đem chung nhỏ ra trước bàn ngoài sân để cúng Đại Bàng bằng cách hô to Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần nơi đồng rộng, mẹ con quỉ la sát, cam lồ được no đủ. Án mục đế tóa ha. 7 lần Tiếp theo, Thầy Chứng Minh xướng Tăng Bạt Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng giữ chánh niệm. Nam Mô A Di Đà Phật ! Tiếp đó, tất cả đại chúng hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận của trời người cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra 3 lần Nhận của trời người cúng ở đây là xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời, chỉ cho bậc A La Hán, người đã đoạn tận tam độc tham, sân, si và vô minh phiền não. Trong khi Cúng Quá Đường ý niệm này khởi lên, mong cho chính bản thân mình và hết thảy chúng sinh sớm chứng đắc A La Hán và thoát ly sinh tử luân hồi khổ đau. Nghe tiếng khánh để bát cơm xuống và múc ít cơm ra chén để lưu phạn. Nghe chuông, bưng chén cơm để trước ngực và thầm đọc Nay đem phước đã tu, ban cho tất cả quỉ, ăn rồi hết đau khổ, xả thân về cõi tịnh, hưởng phước của Bồ Tát, rộng lớn như hư không, quả tốt như vậy đó, tiếp tục lớn thêm mãi. Án độ lợi ích tá ha. 3 lần Lưu phạn là san sẻ phần cơm của mình cho chúng quỉ thần và cho người ăn sau mình; ý nghĩa bố thí, mở rộng tình thương của mình dành cho người bất hạnh, không đủ cơm ăn áo mặc, ý tưởng này giúp cho hành giả nuôi dưỡng từ tâm ngay trong lúc mình ăn. Lưu phạn xong, nghe hai tiếng chuông đại chúng bắt đầu dùng cơm, trước khi ăn, hành giả phải khởi niệm Tam Đề và Ngũ Quán, đây là một nghi cách đẹp và có ý nghĩa của nhà Phật mà hành giả không phải chỉ áp dụng trong khi Cúng Quá Đường mà có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn khác của mình trong đời sống. Tam Đề là ăn ba muỗng cơm lạt đầu tiên, muỗng thứ nhất thầm đọc, nguyện chấm dứt tất cả những điều ác; muỗng thứ hai nguyện làm tất cả những việc lành; muỗng thứ ba nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh. Ý nghĩa Tam Đề này là nói rõ mục đích tối hậu của hành giả tự độ mình là dứt ác, làm lành, đạt đến giải thoát và thực thi hạnh độ tha là giúp đỡ người khác rõ biết đường đi lối về của nhân quả nghiệp báo, ra khỏi tà kiến để chấm dứt đau khổ trong đời sống để rồi cuối cùng cũng đạt đến giác ngộ giải thoát như bản thân mình. Tiếp đến bắt đầu ăn cơm phải tưởng Ngũ Quán – Thứ nhứt. Con xin biết ơn người đã phát tâm cúng dường, sửa soạn những thức ăn này; – Thứ hai. Con nguyện nổ lực tu học, trau dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này; – Thứ ba Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn; – Thứ tư Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật; – Thứ năm Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ mà con xin thọ dụng những thức ăn này. Trong suốt thời gian dùng cơm, hành giả luôn luôn giữ chánh niệm với năm phép quán trên. Ăn cơm xong, lấy tăm xỉa răng và thầm nguyện Nhấm tăm dương chi, nên nguyện chúng sinh, tâm tính thuần hóa, cắn nát phiền não. Án a mộ dà, di ma lệ, nhĩ phạ ca ra, tăng thâu đà nễ, bát đầu ma, câu ma ra, nhĩ phạ tăng thâu đà da, đà ra đà ra, tố di ma lê, sa phạ ha 3 lần, Ngày xưa tăm dùng trong chùa thường được làm bằng cành dương nhỏ, nên gọi là tăm dương. Ăn xong xỉa răng là thời điểm sau cùng của bữa ăn; thân vừa no đủ và tâm tư thư thái, hoan hỷ, không có chút lo lắng phiền não, nên cũng mong cho người khác cũng giống như chính mình. Sau đó Thầy Chứng Minh nhịp một tiếng chuông, đại chúng cùng uống nước, hai tay bưng bát nước cung kính trước ngực và thầm nguyện Phật nhìn một bát nước, có tám vạn tư vi trùng, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha 3 lần. Qua Phật nhãn, Đức Thế Tôn thấy rõ có vô số vi trùng trong một bát nước, một cái thấy mà mãi đến hơn 2,000 năm sau mới có người phát hiện, đó là vào hậu bán thế kỷ 19, nhà sinh vật học người Pháp Louis Pasteur 1822-1895 khám ra những vi khuẩn gây bệnh qua kính hiển vi. Cũng chính vì bài kệ chú uống nước có tính siêu khoa học này mà nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, ông Albert Einstein 1879-1955 đã không ngần ngại khi tuyên bố “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.” Uống nước xong, nghe chuông, đại chúng cùng tụng bài Kiết Trai Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha 7 lần. Gọi là bố thí, tất được ích lợi; vui thích bố thí, sau được an vui. Thọ thực hoàn tất, nên nguyện chúng sanh, việc làm hoàn mãn, đầy đủ Phật pháp. Theo sau là nghi thức niệm Phật và Kinh Hành, đi từ trai đường lên Chánh Điện, hành giả chấp tay nghiêm trang và từng bước chân kinh hành, miệng niệm Phật trong chánh niệm, vào điện Phật, lễ Tứ Thánh, quỳ xuống tụng bài Sám Nguyện và hồi hướng công đức, đó là hoàn mãn thời Cúng Quá Đường! Bài này đã được đăng trên trang Facebook của Duyên Giác Ngộ ngày 10 tháng 7, 2020

nghi thuc cung qua duong