mở bài hay nhất

Bạn đang gặp khó khi làm bài văn Mở bài Sóng khổ 5 6?Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung hay nhất của THPT Trịnh Hoài Đức dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu bổ ích! Những lời chúc 20/10 cho khách hàng ngắn gọn và ý nghĩa nhất năm 2022 sẽ được Vietnamnet chia sẻ chi tiết trong nội dung bài viết này. # Tuyển sinh 2022 ; Công nghệ số và Truyền thông Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 hãy gửi tới mẹ những lời chúc tuyệt vời nhất! Lời Top 29 mẫu mở bài Việt Bắc siêu hay, Mở bài Việt Bắc của Tố Hữu bao gồm các mẫu mở bài trực tiếp, gián tiếp hay và ấn tượng nhất giúp các bạn học sinh nắm được cách sự hòa hợp giữa chất trữ tình và chính trị được ẩn hiện qua từng tác phẩm mà nổi bật Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. Mở bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam gồm 84 mẫu mở bài ấn tượng, hay nhất bao gồm cả mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Qua mở bài hay về Hai đứa trẻ giúp các em học sinh lớp 11 có thêm nhiều gợi ý ôn tập biết cách viết mở bài ngắn gọn, súc tích, gọi tên được vấn đề để lại ấn tượng tốt đẹp đối với người chấm. Mở bài tác phẩm Hai đứa trẻ xoay quanh các dạng bài như phân tích truyện Hai đứa trẻ, phân thích tâm trạng của nhân vật Liên, phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn, phân tích nhân vật Liên, phân tích cảnh đợi tàu, phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm, phân tích giá trị nhân đạo trong Hai đứa trẻ…. Vậy dưới đây là 84 mẫu mở bài 2 đứa trẻ siêu hay, mời các bạn cùng theo dõi và tải tài liệu tại đây đang xem Tổng hợp mở bài Hai đứa trẻ hay nhất 84 mẫu Mở bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất Mở bài phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ 17 Mẫu Mở bài phân tích tâm trạng của nhân vật Liên 14 Mẫu Mở bài phân tích giá trị nhân đạo trong Hai đứa trẻ 7 Mẫu Mở bài phân tích giá trị hiện thực trong Hai đứa trẻ 3 Mẫu Mở bài phân tích bức tranh phố huyện nghèo 12 Mẫu Mở bài phân tích cảnh đợi tàu trong Hai đứa trẻ 11 Mẫu Mở bài phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm 8 Mẫu Mở bài phân tích chi tiết giấc ngủ của Liên 4 Mẫu Mở bài cảm nhận tác phẩm Hai đứa trẻ 3 Mẫu Mở bài cảm nhận nhân vật Liên 5 Mẫu Mở bài phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ Mở bài mẫu 1 Cất lên từ khúc hát tình si nồng nàn say đắm tưởng chừng như muốn bùng cháy,khao khát của những con người nơi phố huyện nghèo trong “Hai đứa trẻ “- Thạch Lam đã ăn sâu vào tâm trí người đọc một ấn tượng sâu sắc đến ám chăng con người của “ Tự lực văn đoàn ấy” đã viết ra bằng những xúc cảm tinh tế mà mãnh liệt nhất chính cuộc sống thuở nhỏ của mình nơi phố huyện xưa? Có lẽ chăng mà vì thế,tác phẩm đi vào lòng người đọc như một nốt nhạc du dương,nhẹ nhàng đến lạ kì. Mở bài mẫu 2 Thạch Lam là cây bút truyện ngắn tài hoa trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Các sáng tác của ông thường hướng vào cuộc sống cơ cực của những người dân nghèo thị thành và vẻ đẹp nên thơ của cuộc sống thường nhật. “Hai đứa trẻ” tiêu biểu cho phong cách độc đáo của ông bởi chất hiện thực hòa quyện với lãng mạn, tự sự giao duyên với trữ tình để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc. Qua tác phẩm, Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương với những cuộc sống cơ cực, quẩn quanh nơi phố huyện nghèo trước Cách mạng đồng thời biểu lộ sự trân trọng ước vọng đổi đời mơ hồ trong họ. Mở bài mẫu 3 Nội dung bao trùm của truyện “Hai đứa trẻ” là tấm lòng “êm mát và sâu kín” của Thạch Lam đối với con người và quê hương. Ở đây, nhà văn vừa thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ sống lam lũ, quẩn quanh trong xã hội cũ vừa bộc lộ thái độ đồng cảnh, trân trọng đối với khát vọng tuy rất mơ hồ của họ. Qua truyện “Hai đứa trẻ”, người đọc còn cảm nhận được phần nào tình cảm gắn bó với quê hương đất nước của Thạch Lam. Mở bài mẫu 4 Truyện của Thạch Lam “không có chuyện”. Và tác phẩm “Hai đứa trẻ” cũng vậy. Chỉ có hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hoàng hôn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ. Nhưng truyện lại chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc. Mở bài mẫu 5 Thạch Lam tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, ông là em trai của hai nhà văn nổi tiếng là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long. Các tác phẩm của ông để lại không nhiều nhưng mỗi một sáng tác là một thành công riêng. Ông được người đời đánh giá là “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn”. Tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” thể hiện tài năng về truyện ngắn là “truyện không có chuyện”, chủ yếu đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật và minh chứng cho văn phòng riêng biệt, độc đáo của Thạch Lam là giản dị, trong sáng mà thâm trầm sâu sắc. Mở bài mẫu 6 Nếu như các nhà văn thuộc Tự lực văn đoàn miêu tả cuộc sống với tất cả những gì đẹp nhất, trong sáng nhất thì Thạch Lam lại tìm cho mình một lối đi riêng. Dưới con mắt của ông, đời không chỉ có tình yêu mãnh liệt đến quên cả đất trời, quên cả mọi người mà còn có cả những nỗi đau. Ngòi bút Thạch Lam hòa cùng cuộc sống, lách vào sâu những ngõ ngách tâm hồn con người để từ đó chắt lọc ra cả một bức tranh đời sống nơi phố huyện nghèo trong Hai đứa trẻ mà ở đó bóng tối đè nặng lên cuộc sống cùng cực, luẩn quẩn của con người. Mở bài mẫu 7 Văn chương Thạch Lam trong sáng giản dị mà thâm trầm sâu sắc. Điều đó được thể hiện qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã đem đến cho người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc về bài học nhân sinh trong cuộc sống. Mở bài mẫu 8 Thạch Lam thực sự sáng tác chỉ trong khoảng sáu năm, và mất khi mới ba mươi hai tuổi. Tuy vậy, ông đã có những đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi Việt Nam trên đường hiện đại hoá, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn. Một trong số đó là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã để lại nhiều giá trị. Mở bài mẫu 9 Nhắc đến Thạch Lam là nhắc đến một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Tác phẩm của ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. Nhà văn Nguyễn Tuân khi nhận xét về Thạch Lam từng viết “Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo. Thạch Lam là nhà văn luôn quý mến cuộc sống, trân trọng sự sống của mọi người xung quanh”. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” chính là minh chứng tiêu biểu nhất cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Mở bài mẫu 10 “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn được nhà văn Thạch Lam viết vào những năm 1937 – 1938 khi mà xã hội Việt Nam ở vào một trong những thời kì đen tối nhất. Đây là truyện mang đậm phong cách của Thạch Lam, cốt truyện không có những nút thắt nổi bật độc đáo nhưng khi đọc xong luôn ám ảnh lòng người. Một trong những thành công của truyện là tác giả đã tái hiện lại bức tranh sinh động về đời sống ở một ga xép khi màn đêm buông xuống mà qua đó nhà văn đã gửi gắm tình cảm của mình với những cảnh đời khác nhau. Mở bài mẫu 11 Thạch Lam – một nhà văn tiêu biểu cho dòng văn học văn lãng mạn. Tuy nhiên cái lãng mạn trong văn của ông nó rất lạ, độc đáo xuất phát từ hiện thực, tinh tế, nhẹ nhàng và đi sâu vào lòng người. Đó là cái lãng mạn tích cực, lãng mạn đẹp. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” rút ra từ tập “Nắng trong vườn” là một minh chứng. Truyện viết xúc động về người nghèo, những em bé nhà nghèo ở một phố huyện nhỏ với lời văn nhẹ nhàng, tinh tế nói lên lòng xót thương đối với những kỷ niệm và ước mơ bình dị, cảm động của những em bé nơi phố huyện nghèo ngày xưa. Mở bài mẫu 12 Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, những người có cuộc sống vất vả , thầm lặng chịu đựng và giàu lòng hi sinh. Những nhân vật trong truyện mang dáng dấp của tâm hồn nhạy cảm của ông, cũng như điểm nhìn của tác giả. Điều đó được thể hiện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Mở bài mẫu 13 Trong nhóm Tự lực văn đoàn, nhà văn Thạch Lam có một cuộc đời ngắn ngủi nhất, viết ít nhất những tác phẩm của ông lại còn mãi với thời gian. Truyện ngắn Thạch Lam dù trải qua bao khắc nghiệt vẫn giữ nguyên giá trị và được nhiều bạn đọc tìm đến với một niềm say mê trân trọng. “Hai đứa trẻ” được in trong tập nắng trong vườn 1938. Sức hấp dẫn của truyện không chỉ ở nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ở tấm lòng nhân hậu mênh mang ở giọng văn lắng đọng nhẹ nhàng mà đặc biệt còn ở ngòi bút khắc họa bức tranh phố huyện nghèo và tâm trạng của Liên. Mở bài mẫu 14 Thạch Lam – nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Ông có rất nhiều những tác phẩm hay. Đặc biệt nổi bật là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” chưa đựng nhiều giá trị sâu sắc. Mở bài mẫu 15 Thạch Lam được biết đến là một cây bút nhẹ nhàng, sâu lắng trong nhóm Tự lực văn đoàn. Phong cảnh văn chương của ông không thể lẫn lộn với bất cứ ai. Mỗi trang văn của ông là những lời thủ thỉ tâm tình cuốn hút người đọc. Đó là “những câu chuyện không có cốt truyện” được viết lên bởi chất liệu nhẹ nhàng, man mác, tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ”. Mở bài mẫu 16 Thạch Lam – nhà văn lãng mạn tiêu biểu của làng văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông không quá phô trương mà thường miêu tả một cách chân thực đời sống của người nông dân. Qua đó, lột tả nội tâm sâu sắc của nhân vật. Điều đó được thể hiện qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Mở bài mẫu 17 Thạch Lam cây bút văn xuôi lãng mạn tiêu biểu của văn học 1930 – 1945, các sáng tác của ông tập trung đi sâu khai thác vào cuộc sống đời thường, bình dị. Với những tác phẩm thường “truyện không có chuyện” nhưng lại để lại những dư âm sâu sắc trong lòng người đọc về vẻ đẹp cuộc sống, tâm hồn con người. “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm mang trong mình vẻ đẹp giản dị, sâu lắng như vậy. Mở bài phân tích tâm trạng của nhân vật Liên Mở bài mẫu 1 Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, những người có cuộc sống vất vả, thầm lặng chịu đựng và giàu lòng hi sinh. Những nhân vật trong truyện mang dáng dấp của tâm hồn nhạy cảm của ông, cũng như điểm nhìn của tác giả. Nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là một trong số những nhân vật điển hình của ngòi bút Thạch Lam. Sự nhạy cảm, sự chuyển biến tâm trạng nhân vật Liên gợi ra nhiều nét tâm trạng của một cô gái mới lớn. Những nét tính cách của Liên được bộc lộ qua những chi tiết nhỏ nhặt trong truyện ngắn, hay chính là những sự thay đổi trong tâm tư tình cảm của tác giả. Mở bài mẫu 2 “Văn học là nhân học” Trong văn học, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mỹ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hòa quyện với nhau. “Hai đứa trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng day dứt về đời sống con người. Điều đó có thể thấy được qua cách Thạch Lam miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên. Mở bài mẫu 3 Thạch Lam đã nhập thân vào nhân vật Liên để khám phá, cảm nhận khung cảnh nơi phố huyện. Liên mới tám tuổi nhưng đã sớm có những quan sát, nhạy cảm trước sự thay đổi của cuộc sống. Thạch Lam đã rất tinh tế khi miêu tả được những diễn biến tâm lý phức tạp trong Liên trong một khoảnh khắc ngắn của thời gian từ chiều tà đến đêm tối. Mọi diễn biến của cuộc sống xung quanh, từng sự thay đổi dù là sự nhỏ nhất của mảnh đất Liên đang sống cũng được nắm bắt qua đôi mắt và cảm nhận của Liên. Mở bài mẫu 4 Những trang văn Thạch Lam như những dòng suối ngọt lành nồng nàn tình yêu thương. Sáng tác của Thạch Lam mang màu sắc hiện thực song lại không để cho người đọc thấy được những mảnh vá trên vai áo của những con người nghèo khổ. “Hai đứa trẻ” – một truyện ngắn thấm thía niềm xót thương, một trái tim giàu lòng trắc ẩn của Thạch Lam đã gợi ra tính nhân văn cao cả. Cả truyện ngắn bao trùm là cuộc sống quẩn quanh, cơ cực, tối tăm ở phố huyện nghèo, nhưng dường như ở đó ta vẫn thấy những điểm sáng đó là hình ảnh hai chị em Liên và An. Hai đứa trẻ là hai nhân vật chính của câu chuyện, mọi biến chuyển tinh vi của vạn vật đều hiện lên qua ánh nhìn nhạy cảm của cô bé Liên. Không gian phố huyện được xuất hiện qua tâm trạng Liên và đến với người đọc qua tâm trạng Liên. Mở bài mẫu 5 Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam được viết vào năm 1938, nhân vật Liên là một nhân vật mà tác giả đã khai thác rõ nhất về tâm trạng cũng như nội tâm. Dù đó chỉ là một cô bé mới lớn nhưng trong cô đã ôm ấp những cái rất mới trong sự khao khát và ước muốn của con người ở phố huyện nghèo này. Mở bài mẫu 6 Thạch Lam nổi tiếng với lối viết “truyện không có chuyện” – những truyện ngắn của ông dường như không theo một sự kiện nào cả mà cứ bình bình đạm đạm kể về cuộc sống sinh hoạt của những con người, những kiếp người với giọng văn tinh tế, giản dị và sâu sắc. Thạch Lam rất giỏi trong việc miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật, ông không tả một cái gì trực tiếp mà thường qua những chi tiết, những hành động và lời nói của nhân vật và phác họa nên một tâm hồn phong phú, độc đáo. Nhân vật Liên trong tác phẩm là một điển hình của nghệ thuật ấy, từ những cảnh chiều tàn phố thị, những kiếp người tàn nơi tỉnh lẻ, bức tranh tâm hồn và tâm trạng của Liên đã được bộc lộ một cách tinh tế và sâu sắc. Mở bài mẫu 7 Nhận xét về văn Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã nhận định “Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo. Thạch Lam là nhà văn luôn quý mến cuộc sống, trân trọng sự sống của mọi người xung quanh”. Mạch cảm xúc của Thạch Lam thường bắt nguồn từ con người bình dị, cuộc sống bình dị. Ông tinh tế nắm bắt những rung cảm, những xúc cảm trong tâm hồn họ. Nhân vật Liên trong tác phẩm đã thể hiện rõ biệt tài này của ông, đồng thời qua nhân vật còn thấy được tấm lòng trân trọng của nhà văn đối với con người. Mở bài mẫu 8 Văn học trung đại Việt Nam khép lại ở cuối thế kỉ XIX nhường lối cho văn học hiện đại phát triển. Thời kì này thể loại văn xuôi thành công nhất được kết tinh ở tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhắc đến truyện ngắn ta phải nhắc đến Thạch Lam – “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn”. Đặc trưng truyện ngắn của Thạch Lam là “truyện không có chuyện” song vẫn có sức lôi cuốn riêng, con người hiện thực dưới cái nhìn và ngòi bút của ông “không dữ dội như Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố” nhưng vẫn để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc. Và nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là con người như thế. Một con người có một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm được nhà văn quan sát và thể hiện qua diễn biến tâm trạng của cô từ lúc chiều tối cho đến đêm khuya với hai trạng thái cơ bản là nỗi buồn triền miên và niềm vui thoáng chốc khi đoàn tàu đến. Mở bài mẫu 9 Thạch Lam được mệnh danh là một trong những cây bút lãng mạn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Với lối viết giản dị, giàu cảm xúc những tác phẩm của ông đã để lại nhiều suy tư trong lòng người đọc. “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm như vậy. Với lối viết bình dị, tâm tình cùng nhiều cung bậc cảm xúc, Thạch Lam đã tạo ra một cô bé Liên với nhiều suy tư, ẩn chứa nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 10 Thạch Lam là một nét chấm phá khác biệt của văn học lãng mạn. Giữa thời điểm người ta tìm cái lãng mạn ở cuộc sống thị thành thì Thạch Lam lại hướng ngòi bút của mình để trân trọng nâng niu những mơ ước khát khao đẹp đẽ của những con người nghèo khổ. Tình cảm nhân văn ấy được thể hiện rất rõ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ khi Liên đang chờ chuyến tàu đêm đi qua phố huyện. Mở bài mẫu 11 Thạch Lam – một nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn nổi tiếng. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông phải kể đến truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Trong tác phẩm này, Thạch Lam đã khắc họa thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật liên. Qua đó, ông muốn gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu sắc. Mở bài mẫu 12 Thạch Lam là một trong số những cây bút lãng mạn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Với lối viết giàu tâm tình, lời văn bình dị mà gợi cảm, những sáng tác của Thạch Lam luôn mở ra một thế giới thầm kín bên trong của con người với biết bao cảm tưởng, cảm giác và đọng lại trong lòng người đọc thật nhiều dư vị. Và có thể nói, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là một trong số những sáng tác xuất sắc của Thạch Lam. Đọc thiên truyện, người đọc sẽ không thể nào quên được nhân vật Liên – một cô gái nơi phố huyện cũ với nhiều cung bậc cảm xúc, vừa mơ hồ, mong manh, vừa tinh tế và ẩn chứa nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 13 Thạch Lam quan niệm Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, lòng người trong sạch và phong phú hơn.” Và với “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam đã khiến người đọc không thể quên hay thoát li về hiện thực nơi phố huyện nghèo của những ngày tàn, kiếp người tàn. Đặc biệt, nhân vật Liên là nhân vật chính của truyện, đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả, bởi một cô bé dù sống nghèo khó, tù túng nhưng luôn khát khao mãnh liệt, tin tưởng vào sự sống. Mở bài mẫu 14 Thạch Lam là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc trong nhóm Tự Lực văn đoàn. “Hai đứa trẻ” là tác phẩm xuất sắc của Thạch Lam được in trong tập “Nắng trong vườn”. Tác phẩm để lại ấn tượng đối với người đọc nhờ lối kể chuyện nhẹ nhàng ấm áp tình đời, tình người. Có lẽ hình ảnh hai đứa trẻ mà tiêu biểu là nhân vật Liên được Thạch Lam tập trung khắc hoạ nhiều nhất. Mở bài phân tích giá trị nhân đạo trong Hai đứa trẻ Mở bài mẫu 1 Thạch Lam là một trong những cây bút chủ lực của nhóm “Tự lực văn đoàn”. Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, phê bình… Nhưng lĩnh vực thành công nhất của ông là truyện những truyện ngắn có khuynh hướng hiện thực cuộc sống của Thạch Lam có thể nói “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm thành công tiêu biểu. Truyện không có những tình tiết hấp dẫn, li kì, gây cấn chỉ xoay quanh sinh hoạt của người dân ở một phố huyện nghèo trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng qua đó Thạch Lam đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Mở bài mẫu 2 Thạch Lam là một nhà văn thuộc khuynh hướng lãng mạn. Các tác phẩm của ông giản dị, nhẹ nhàng mà lại thâm trầm sâu sắc. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm đó. Truyện đã gửi gắm được những giá trị nhân văn sâu sắc. Mở bài mẫu 3 Thạch Lam là một cây bút nổi tiếng trong dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Những tác phẩm của ông luôn chứa đựng những tình cảm dịu dàng, lắng đọng, những lãng mạn, tinh tế của cuộc sống thường ngày. Văn của Thạch Lam thường khai thác nội tâm nhạy cảm của nhân vật, để phản ánh nỗi lòng, tâm tư của mình vào trong câu chuyện, vừa dung dị, nhẹ nhàng, lại vô cùng thâm trầm, sâu sắc. “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của Thạch Lam. Truyện thể hiện được những giá trị nhân đạo sâu sắc. Mở bài mẫu 4 Có thể nói, Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Và “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, vừa tiêu biểu cho bút pháp của nhà văn, vừa thể hiện giá trị tư tưởng sâu sắc và mới mẻ. Câu chuyện thấm đẫm cảm quan trữ tình, bởi tinh thần nhân đạo hiện hữu rất rõ rệt. Mở bài mẫu 5 Qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, nhà văn đánh thức trong những tâm hồn nhỏ bé chỉ biết cam chịu lên những ước mơ mãnh liệt về một cuộc đời đẹp đẽ hơn, có ý nghĩa hơn. Nói cách khác, đó là một lời nhắn gửi Ít ra thì trong cuộc sống tẻ nhạt, buồn chán, con người cũng phải biết khao khát một điều gì đó; hãy cố gắng vượt lên, đừng buông xuôi theo số phận, đừng để số phận chôn vùi, mỗi người có thể là vô danh, sống đừng sống vô nghĩa. Đó là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Mở bài mẫu 6 Thạch Lam là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Các tác phẩm của ông luôn luôn chứa đựng những tình cảm ngọt ngào, sâu lắng về cuộc sống thường ngày. Tác phẩm “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm mang đậm phong cách của nhà văn Thạch Lam. Ở đây, ông đã vẽ lên một bức tranh về phố huyện nghèo của Việt Nam, ẩn sâu trong đó là một niềm cảm thương sâu sắc đối với những con người nơi đây. Đó là điều đã tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm. Mở bài mẫu 7 Xúc cảm của Thạch Lam thường bắt nguồn và lấy từ những chân cảm với đời, với những con người ở tầng lớp nghèo, thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, nhạy cảm trước cuộc sống của mọi người xung quanh. Chính tình cảm và sự quý mến ấy của ông đã giúp ông nhận thức sâu sắc tinh tế, “Hai đứa trẻ” là một tác phẩm của Thạch Lam đã làm tái hiện lên hiện thực và giá trị nhân đạo vô cùng mới mẻ. Mở bài phân tích giá trị hiện thực trong Hai đứa trẻ Mở bài mẫu 1 “Hai đứa trẻ” là một “truyện không có chuyện”, nó chỉ ghi lại một góc đời thường của những số phận cơ hàn. Nhưng tác phẩm này đã khắc họa được một bức tranh hiện thực về những kiếp người nhỏ bé, khổ cực trong xã hội Việt Nam. Mở bài mẫu 2 “Văn học là nhân học” M. Gorki, trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con người luôn luôn là một phương tiện thẩm mỹ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hòa quyện với nhau. “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là bức tranh hiện thực về cuộc sống của những con người nơi phố huyện nghèo. Mở bài mẫu 3 Thạch Lam là nhà văn lãng mạn tiêu biểu với nhiều tác phẩm có giá trị. Nhưng điều làm nên sự thành công trong tác phẩm ấy còn là những giá trị hiện thực được nhà văn gửi gắm. Tác phẩm “Hai đứa trẻ” đã khắc họa cho người đọc thấy được một bức tranh hiện thực, nổi bật lên là hình ảnh những kiếp người nhỏ bé ở một vùng làng quê nghèo khó. Mở bài phân tích bức tranh phố huyện nghèo Mở bài mẫu 1 Thạch Lam là một trong những nhà văn có lối viết độc đáo nhất trong nền thơ ca Việt. Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện nhưng qua thế giới cảm xúc, tâm trạng của nhân vật, tác phẩm của ông vẫn toát lên cái tình, cái chất thơ tự nhiên mà tha thiết, xúc động. Qua những tác phẩm của mình ông bộc lộ nỗi thương cảm, xót xa với cuộc sống và những số kiếp con người nghèo khổ. “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm như thế! Bằng sự nhạy cảm của mình, Thạch Lam đã vẽ lên bức tranh phố huyện trong “Hai đứa trẻ” – bức tranh với những kiếp người lam lũ, với những cuộc sống tối tăm, đơn điệu giữa cuộc đời. Mở bài mẫu 2 Nhà văn Thạch Lam là một con người trưởng thành trong nhóm Tự lực văn đoàn, với phong cách sáng tác mang một màu sắc cá nhân, riêng biệt, không bị lẫn với bất kỳ ai. Văn Thạch Lam vô cùng sâu lắng, nhẹ nhàng nhưng đôi lúc cũng buồn man mác, đi sâu vào lòng người đọc. “Hai đứa trẻ” là một câu truyện như thế, truyện đã vẽ lên một bức tranh về con phố huyện nghèo, nơi có những con người nghèo khó, khốn cùng trong xã hội Việt Nam ngày ấy. Mở bài mẫu 3 “Hai đứa trẻ” tuy chưa phải là truyện ngắn hay nhất nhưng lại khá tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam bình dị, nhẹ nhàng mà tinh tế, thâm thuý. Truyện dường như chẳng có gì hầu như không có cốt truyện, chẳng có xung đột gay cấn, chẳng có gì đặc biệt cả. “Hai đứa trẻ” chỉ là một mảng đời thường bình lặng nổi bật trong một bức tranh phố huyện nghèo – hình ảnh trên đã gửi gắm nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 4 Trong nền văn học Việt Nam, ít có người như Thạch Lam. Bằng những truyện ngắn tưởng như đơn giản, không có cốt truyện nhưng những gì nhà văn viết, tiếng nói nhè nhẹ của ông đã để lại những lắng sâu, những nghĩ suy, những dư âm nhẹ nhàng mà sâu sắc cho độc giả. “Hai đứa trẻ” in trong tập Nắng trong vườn, xuất bản năm 1938 là một truyện ngắn như thế. Dưới con mắt ngây thơ của “Hai đứa trẻ”, người đọc dường như cùng nhập cuộc, cùng theo dõi, để rồi bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống của phố huyện nghèo, của những con người bình dị, lam lũ hiện lên. Mở bài mẫu 5 Thạch Lam là cây bút trưởng thành trong nhóm Tự lực văn đoàn với phong cách sáng tác không thể lẫn lộn với bất cứ nhà văn nào. Những trang viết của ông nhẹ nhàng, sâu lắng, man mác và dìu dặt. Đó như là những lời tâm tình thủ thỉ nhưng lại có sức ám ảnh đối với người đọc. Những câu chuyện ông kể thường không có cốt truyện, bởi mọi thứ được viết bởi một chất liệu nhẹ và sâu nhất. “Hai đứa trẻ” là một câu chuyện như vậy. Truyện ngắn này đã vẽ lên bức tranh phố huyện nghèo với những mảnh đời nghèo khó, cơ cực trong xã hội. Mở bài mẫu 6 Thạch Lam 1910 – 1942 là một cây bút truyện ngắn rất tài hoa xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Trong văn Thạch Lam có sự kết hợp tự nhiên hài hòa giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn, nên văn Thạch Lam vừa nhẹ nhàng thanh thoát vừa ý vị sâu xa. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” 1938 là một truyện ngắn đặc sắc tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam. Truyện ngắn thông qua cái nhìn của hai đứa trẻ nhà văn đã tái hiện một bức tranh thiên nhiên và một bức tranh về đời sống của nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng tám. Qua hai bức tranh này nhà văn đã gợi lên được nhiều ý nghĩa xã hội sâu xa. Mở bài mẫu 7 Trong Tự Lực văn đoàn, nhà văn Thạch Lam đứng thành một dòng riêng biệt. Nhất Linh với Khái Hưng còn có thể viết tiểu thuyết chung nhưng Thạch Lam thì không. Giọng điệu của Thạch Lam nhỏ nhẹ, điềm tĩnh, sâu lắng, nhiều dư vị, có sức truyền cảm đặc biệt. Thạch Lam lại hướng về các nhân vật bé nhỏ ở tầng lớp dưới của xã hội. Trong khi đó, các nhà văn khác của Tự lực văn đoàn lại hướng về các nhân vật thượng lưu. “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn tiêu biểu cho văn phong Thạch Lam, cho khuynh hướng tư tưởng của Thạch Lam, hướng về cuộc đời, hướng về cái Thiện, cái Mỹ. Đặc biệt trong truyện ngắn này là hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo với nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 8 “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn “trữ tình đượm buồn”. Tác phẩm chứa những nỗi đau hiện thực và vẻ đẹp khuất lấp tựa thứ hương hoàng lan chưng cất từ những nỗi đời. Đặc biệt, bức tranh phố huyện nghèo được khắc họa trong tác phẩm thể hiện rất rõ phong cách, tài năng cũng như bức thông điệp nhân văn mà tác giả muốn truyền tải. Mở bài mẫu 9 Có một nhà văn đã từng khẳng định “Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác”. Thật vậy, mỗi người nghệ sĩ khi đứng trên văn đàn văn học cần phải có một phong cách riêng, một “giọng nói riêng” hay một “đôi mắt” khác người thì tác phẩm của họ mới để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả. “Một khi phong cách trở thành máu thịt của nhà văn sẽ tạo nên sắc điệu thẩm mĩ riêng biệt, không thể trộn lẫn với bất kỳ ai”. Và Thạch Lam đã hoàn thành xuất sắc thiên chức của mình. Ở “Hai đứa trẻ”, ông tạo cho người đọc một cảm giác khác lạ, hoàn toàn không giống với những tác phẩm cùng thời ông. Đặc biệt ông phát hiện bức tranh đời sống phố huyện nghèo khi chiều buông xuống. Mở bài mẫu 10 Đến với Thạch Lam ai cũng biết ông là một cây bút tài hoa xuất sắc của văn học Việt Nam, là nhà văn lãng mạn thuộc thành viên của nhóm “tự lực văn đoàn” nhưng văn của Thạch Lam lại nghiêng về cuộc sống cơ cực, bế tắc, vất vả của những người nông dân, tiểu tư sản, thị dân nghèo. Vì vậy trong sáng tác của Thạch Lam xuất hiện chất hiện thực và trữ tình hòa quyện đan cài tạo nên nét đặc sắc trong cách nghệ thuật. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đã biểu hiện được phẩm chất đó. Hiện lên trong tác phẩm là bức tranh thiên nhiên, bức tranh cuộc sống, bức tranh tâm trạng của con người. Mở bài mẫu 11 Thạch Lam sinh ra trong gia đình theo truyền thống văn học. Anh trai ông Nhất Linh, Hoàng Đạo, cùng với Khải Hưng, Thạch Lam là những thành viên của Tự Lực Văn Đoàn. Nhóm Tự lực văn đoàn theo phong cách văn học “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Các tác phẩm của nhóm đều tô hồng, bôi đen cuộc sống, thoát ly đời thực như Đồi thông hai mộ, Hồn bướm cánh tiên, Giăng thề, Kiếp hoa, Con đường sáng, Nửa chừng xuân… Dù có chân trong Tự Lực văn đoàn nhưng văn của Thạch Lam không như họ, không tô hồng, bôi đen, thoát li cuộc đời. Không viết về cuộc sống của những cậu ấm cô chiêu phục vụ cho giai cấp thượng lưu nơi thị thành. Thạch Lam viết về cuộc sống nghèo túng, bế tắc quẩn quanh, bấp bênh của giai cấp tư sản nghèo, của tầng lớp buôn bán nhỏ qua hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Mở bài mẫu 12 Một trong những nhà văn tiêu biểu của khuynh hướng văn học lãng mạn là Thạch Lam. Có thể kể đến tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Với truyện ngắn này, nhà văn đã khắc họa được hình ảnh bức tranh phố huyện nghèo nhằm gửi gắm một ý nghĩa sâu sắc. Mở bài phân tích cảnh đợi tàu trong Hai đứa trẻ Mở bài mẫu 1 Dù chỉ xuất hiện trên văn đàn vẻn vẹn có năm năm nhưng Thạch Lam sớm khẳng định là một cây bút truyện ngắn độc đáo. Sinh thời, ông từng quan niệm “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, lẩn khuất khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở những chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để cho người đọc trông nhìn và thưởng thức”. Rút ra từ tập truyện ngắn “Nắng trong vườn”, “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách độc đáo không trộn lẫn của Thạch Lam. Đến với “Hai đứa trẻ” độc giả ai ai cũng thấy cảnh đợi tàu là sự kiện tiêu biểu nơi ngòi bút của Thạch Lam thăng hoa. Mở bài mẫu 2 Thạch Lam tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh sau đổi thành Nguyễn Tường Lân, sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại nhưng tuổi thơ gắn liền với quê ngoại ở phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Thạch Lam là một thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn cho dòng văn học lãng mạn. Thạch Lam là người đôn hậu và tinh tế, điều này ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của ông. Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” – tác phẩm truyện ngắn nổi bật của ông, người đọc sẽ ấn tượng với cảnh đợi tàu. Mở bài mẫu 3 “Mỗi truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu, chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người”. Quả thực đúng như vậy, những trang văn của Thạch Lam không đi vào những biến cố mà đi sâu vào chiều sâu tâm trạng của con người. Cảnh chờ tàu của hai chị em Liên và An đã được tác giả nắm bắt những chuyển biến tế vi nhất trong tâm trạng của hai nhân vật. Mở bài mẫu 4 “Trong nhóm Tự lực văn đoàn, Hoàng Đạo là người lý thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng đả phá vào nếp sống cũ để tiến tới một đời sống mới… còn Thạch Lam một người yêu thương đồng bào, xót xa từ tâm can tỳ phế.” Văn phong Thạch Lam nhẹ nhàng mà sâu lắng nhưng con người trong trang văn của ông không thoát ly khỏi hiện thực tàn khốc. Ông yêu thương đồng bào vô cùng, tuy nhân vật của ông dù sống cảnh nghèo khó nhưng họ vẫn không ngừng vươn tới, vẫn ánh lên tia hy vọng tươi mới. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” với cảnh đợi tàu của chị em Liên là minh chứng cho điều đó. Mở bài mẫu 5 Thạch Lam là nhà văn nổi tiếng của Văn học Lãng mạn những năm 1930-1945. Là một trong những cây bút của Tự lực văn đoàn, nhưng văn chương của Thạch Lam không quá xa vời thực tế như những cây bút trong nhóm. Mà văn chương của ông nhẹ nhàng chất đời lãng mạn. Nổi bật nhất phải kể đến truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, câu chuyện chờ đợi tàu của chị em Liên nơi phố huyện Hà Nội những năm tháng trước Cách Mạng. Thiên truyện ngắn cốt truyện đơn giản nhưng lại đọng lại những suy ngẫm sâu sắc đặc biệt cảnh chờ đợi tàu của hai chị em Liên. Mở bài mẫu 6 Có lần nhà văn Thạch Lam từng nói rằng “Cái đẹp man mác trong vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật”. Niềm khát khao truy tìm những cái đẹp lẩn khuất tiềm tàng khắp ở những con người, sự vật, sự việc tầm thường như thế đã tiếp thêm sức mạnh trên con đường nghệ thuật cho nhà văn, giúp ông sáng tác thành công tác phẩm “Hai đứa trẻ”, áng văn xuôi đặc sắc của văn học Việt Nam trước cách mạng. Đặc biệt là cảnh đợi chuyến tàu đêm của hai chị em Liên chính là nơi kết tinh những tư tưởng nghệ thuật sâu sắc và tiến bộ của Thạch Lam với ngòi bút nhân đạo, trữ tình. Mở bài mẫu 7 Thanh Lam là một trong những cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm tự lực văn đoàn nhưng ông mang một nét rất riêng so với các nhà văn trong nhóm. Văn của Tự lực văn đoàn thường đượm một nỗi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nỗi buồn hiện thực. Nó như một thứ “Hương hoàng lan”, được cất từ những nỗi đời. Đến với truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng với cảnh đợi tàu của người dân nơi phố huyện nghèo. Mở bài mẫu 8 “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam. Từ những chuyện dường như không có gì đáng kể, nhà văn đã đề cập một cách tinh tế, kín đáo mà sâu sắc những vấn đề thiết thực đối với con người và xã hội. Ngòi bút Thạch Lam đã dành cho những số kiếp lầm than một tình cảm xót thương. Và đặc biệt chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trở thành hình ảnh đầy ý nghĩa, phần nào thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Những ai đã đọc “Hai đứa trẻ” chắc không quên hình ảnh này vì chính nó là biểu hiện của nỗi khát khao cho những người như chị em Liên. Hình ảnh chị em Liên đêm đêm cố thức đợi tàu trở thành nỗi ám ảnh trong lòng người khi gấp lại trang cuối tác phẩm. Mở bài mẫu 9 “Hai đứa trẻ” là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của Thạch Lam. Khi đọc truyện, người đọc sẽ chú ý đến cảnh đợi tàu nằm ở cuối truyện với ý nghĩa sâu sắc được nhà văn gửi gắm. Mở bài mẫu 10 Tuổi thơ là những ngày tháng đầy ắp kỷ niệm về những lần chờ đợi. Có ai mà không từng chờ đợi kỳ nghỉ hè để được chơi thỏa thích, chờ đợi đêm giao thừa để được quần áo mới hay đơn giản hơn là chờ đợi vài viên kẹo mỗi khi bà đi chợ về. Có chờ đợi nên chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được sự hồi hộp, háo hức, hi vọng của chị em Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Bao nhiêu nỗi niềm vui buồn của tuổi thơ và cả những khát vọng đời thường của con người được Thạch Lam gửi gắm hết vào cảnh đợi chờ chuyến tàu đêm từ Hà Nội qua phố huyện nghèo của chị em Liên. Mở bài mẫu 11 Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” – một tác phẩm khá tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Thạch Lam, ông đã thành công xây dựng được cảnh đợi tàu của chị em Liên. Qua đó, tác giả muốn gửi gắm một ý nghĩa sâu sắc. Mở bài phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm Mở bài mẫu 1 Thạch Lam là nhà văn xuất sắc trước Cách mạng tháng Tám. Những việc hết sức bình thường trong đời sống đã được nhà văn miêu tả một cách chân thực, sâu sắc, gợi nên nhiều nghĩ suy. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, với hình ảnh đoàn tàu đi qua phố huyện chỉ vài ba phút trong đêm là hình ảnh đầy ý nghĩa. Mở bài mẫu 2 Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam in trong tập “Nắng trong vườn” Nhà xuất bản Đời nay, Hà Nội, năm 1938. Đây là một kiểu truyện ngắn trữ tình có nhiều chi tiết ngỡ như vụn vặt, vô nghĩa, nhưng kỳ thực đã được tác giả chọn lọc và sắp xếp một cách chặt chẽ để diễn tả tâm trạng nhân vật. Nội dung tác phẩm đi sâu miêu tả những cảnh đời thường, những số phận nghèo khổ, tối tăm trong xã hội cũ. Đặc sắc nhất trong truyện là hình ảnh chuyến tàu đêm với nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 3 Con tàu là sản phẩm của nền văn minh phương Tây, xuất hiện ở Việt Nam trong bối cảnh người Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương. Sự xuất hiện của nó không chỉ làm thay đổi đời sống kinh tế – xã hội, mà còn đem đến cho văn chương Việt Nam một nguồn thi liệu mới. Giờ đây, bên cạnh hình ảnh con thuyền – bến sông, trong văn chương nước nhà đã có thêm hình ảnh sân ga – con tàu. Giữa rất nhiều sáng tác trước 1945, chúng ta thấy truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đã miêu tả thành công hình tượng con tàu – hình tượng mở ra nhiều khía cạnh khác nhau của hiện thực đời sống xã hội đương thời. Mở bài mẫu 4 “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Thạch Lam nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chúng. Bằng chất văn nhẹ nhàng mà tinh tế, truyện mang đến cho người đọc những xúc cảm về một hiện thực nghèo nàn nơi phố huyện với những kiếp người tàn sống trong bóng tối u uất. Những hình ảnh trong tác phẩm tuy bình dị, gần gũi mà ẩn chứa những tầng ý nghĩa lớn lao sâu sắc. Đặc biệt, hình ảnh chuyến tàu đêm là gây ấn tượng khó phai khiến ta phải trăn trở, nghĩ suy. Mở bài mẫu 5 Thạch Lam là nhà văn, người chiến sĩ trên mọi thời đại, chính vì vậy ông luôn hiểu được những mong muốn ước mong của những người dân nghèo, cảm thông và thấu hiểu được điều đó ông đã sáng tác lên tác phẩm “Hai đứa trẻ” để qua đó người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống, con người và những ước mơ nhỏ nhoi của những đứa trẻ nơi đây. Hình ảnh chuyến tàu đêm là tia sáng để gợi lên cho người đọc nhiều cảm xúc. Mở bài mẫu 6 Hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện, giữa những cảnh hoang sơ, tàn lụi, và đầy u ám của một xã hội thu nhỏ. Chuyến tàu đêm như một thế giới hoàn toàn khác biệt, là niềm mơ ước và khát vọng của những người nghèo khổ. Những ánh đèn lập lòe, những tiếng ồn ã náo động như đánh thức mọi giác quan, khiến tất cả mọi người như lạc vào một xã hội mới với một niềm mong ước thầm lặng. Mở bài mẫu 7 “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn hiện thực giàu chất thơ của Thạch Lam, qua câu chuyện về cuộc sống tẻ nhạt người dân phố huyện, nhà văn tái hiện chân thực về cuộc sống đời thường với những hoạt động đời thường và những số phận đau khổ, tối tăm trong xã hội cũ đồng thời thể hiện sự trân trọng, yêu thương của nhà văn với số phận con người. Trong truyện ngắn, hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện xuất hiện nhiều lần không chỉ gây ấn tượng cho cảm nhận của độc giả mà còn góp phần thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Mở bài mẫu 8 “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một trong những những truyện ngắn trữ tình có đặc sắc. Nội dung truyện ngắn chủ yếu đi sâu vào miêu tả những cảnh đời thường, số phận nghèo khổ, tối tăm trong xã hội cũ. Qua đó tác giả muốn gửi gắm một cách kín đáo nhẹ nhàng nhưng không kém phần thấm thía tư tưởng nhân đạo đáng quý. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh chuyến tàu đêm. Mở bài phân tích chi tiết giấc ngủ của Liên Mở bài mẫu 1 Nhắc đến Thạch Lam, ta không thể quên một nhà văn tài năng, có cái tâm luôn dành tình cảm thiết tha và trìu mến nhất cho con người. Thạch Lam đã dùng chính cái tâm, cái tài của mình đã bộc lộ những nét đẹp của con người, nhằm nâng cao lên ước mơ, khát vọng của họ. Đọc truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, ta không chỉ nhớ tới chi tiết đoàn tàu đêm đi qua phố huyện nghèo, mà còn ám ảnh khôn nguôi về chi tiết giấc ngủ của Liên ở cuối câu truyện “Nhưng Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”. Mở bài mẫu 2 Thạch Lam là một trong những nhà văn lãng mạn nổi tiếng của văn học Việt Nam. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Trong truyện ngắn này, nhà văn đã xây dựng được một chi tiết đắt giá – chi tiết giấc ngủ của Liên ở cuối truyện, chứa đựng nhiều ý nghĩa. Mở bài mẫu 3 Khi đọc tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam, có rất nhiều chi tiết gợi cho ta ấn tượng sâu sắc. Một trong số đó là chi tiết giấc ngủ của Liên ở cuối truyện “Nhưng Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”. Chi tiết này là một dụng ý nghệ thuật của Thạch Lam. Mở bài mẫu 4 Thạch Lam – một nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn. Đến với tác phẩm “Hai đứa trẻ”, tác giả đã xây dựng được nhiều chi tiết đắt giá. Một trong số đó là chi tiết giấc ngủ của Liên – nhân vật chính trong tác phẩm với nhiều ý nghĩa. Mở bài cảm nhận tác phẩm Hai đứa trẻ Mở bài mẫu 1 Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ông đi sâu vào miêu tả tâm trạng nhân vật. Những truyện ngắn của ông là truyện không có cốt truyện, tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” đã tái hiện lại khung cảnh và cuộc sống nơi phố huyện nghèo Cẩm Giàng – Hải Dương. Ngòi bút của Thạch Lam hướng đến việc khai thác sâu nội tâm nhân vật Liên trước mỗi khoảnh khắc của thời gian, không gian cho thấy tấm lòng “êm mát và sâu kín”, niềm xót thương vô hạn của ông đối với con người nơi đây nói riêng và những kiếp người nông dân nghèo trong xã hội cũ nói chung. Mở bài mẫu 2 Khi chạm đến những trang văn của Thạch Lam, người đọc sẽ cảm nhận được cái tinh tế, dịu dàng trong từng câu chữ. Truyện của Thạch Lam là như vậy, ông không tìm đến những gì siêu tục, những mâu thuẫn gay cấn, ông tìm về cuộc sống đời thường dung dị, lách sâu ngòi bút vào từng tâm hồn con người, từng cảnh ngộ để phát hiện, để trân trọng, nâu niu những khao khát bé nhỏ của họ. Đọc “Hai đứa trẻ” cũng đem đến cho người đọc những rung cảm như vậy, đẻ đến khi gấp trang sách ta vẫn còn bị lay động mãi không thôi bởi ước mơ đổi đời của những con người sống nơi phố huyện. Mở bài mẫu 3 Nếu như các nhà văn thuộc Tự lực văn đoàn miêu tả cuộc sống với tất cả những gì đẹp nhất, trong sáng nhất thì Thạch Lam lại tìm cho mình một lối đi riêng. Dưới con mắt của ông, đời không chỉ có tình yêu mãnh liệt đến quên cả đất trời, quên cả mọi người mà còn có cả những nỗi đau. Ngòi bút Thạch Lam hòa cùng cuộc sống, lách vào sâu những ngõ ngách tâm hồn con người để từ đó chắt lọc ra cả một bức tranh đời sống nơi phố huyện nghèo trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” mà ở đó bóng tối đè nặng lên cuộc sống cùng cực, luẩn quẩn của con người. Mở bài cảm nhận nhân vật Liên Mở bài mẫu 1 Phạm Văn Đồng đã từng viết “Cái giá trị đích thực của văn học là con người, cộng đồng con người và cuộc sống con người chứ không phải là một cái gì khác. Ai muốn tìm một cái gì khác thì sẽ không có chỗ đứng, không có triển vọng về tương lai bởi nó xa lạ với con người và con người cũng không cần đến nó”. Nói như vậy có nghĩa là các nhà văn phải hướng ngòi bút của mình vào con người, lấy con người là trung tâm của tác phẩm. Cũng giống như bao nhà văn khác, trang văn của Thạch Lam luôn viết về cuộc sống con người. Nhưng nhân vật của ông không có nét dữ dội, mãnh liệt như chị Dậu, Chí Phèo hay Lão Hạc mà nó mang vẻ đẹp bình dị, nhẹ nhàng, ông nhấn mạnh đến đời sống tâm hồn của nhân vật. Tiêu biểu cho con người của trang văn Thạch Lam là cô bé Liên trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” mang tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và luôn khao khát về cuộc sống mới tốt đẹp hơn ở tương lai. Mở bài mẫu 2 Trong không khí “náo nhiệt” của văn chương lãng mạn 1930 – 1945 của thế kỷ trước, có một nhà văn xuất hiện như một nốt lặng đầy bình thản, thâm trầm mà vô cùng sâu sắc, ấn tượng. Đó là Thạch Lam. Ông được ví như là người dung hòa giữa hai chủ nghĩa hiện thực và lãng mạn. Điều đó thể hiện qua ngòi bút viết truyện ngắn thấm đẫm chất trữ tình nhưng vẫn giản dị, nhẹ nhàng gợi lên nhiều suy ngẫm về thế thái nhân tình. “Hai đứa trẻ” là tác phẩm tiêu biểu như thế của ông. Ở đó, cô bé Liên – nhân vật chính trong truyện ngắn đã trở thành “lăng kính”, thành “đôi mắt” để Thạch Lam thể hiện cách nhìn đời, nhìn người và phô diễn khả năng nghệ thuật độc đáo của mình. Mở bài mẫu 3 Thạch Lam, cây bút văn xuôi lãng mạn nổi tiếng của văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông không đi sâu vào những sự kiện, biến cố mang tính chất gay cấn, cũng không đi vào cái lãng mạn tiểu tư sản đang là thời thượng lúc bấy giờ. Ông tìm chất lãng mạn trong những thứ bình dị, đời thường nhất. Có thể nói, “Hai đứa trẻ” là tác phẩm thành công nhất của ông, một tác phẩm đượm buồn, bàng bạc chất thơ được nhìn nhận dưới con mắt của cô gái mới lớn – Liên. Liên là cô gái có tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước cuộc sống và thiên nhiên. Mở bài mẫu 4 “Hai đứa trẻ” là một trong những sáng tác truyện ngắn của Thạch Lam. Truyện đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc về nhân vật Liên – một cô gái dịu dàng đảm đang, tâm hồn lúc nào cũng đầy mộng mơ, mong ước về một tương lai tươi sáng cho phố huyện nghèo mặc dù hiện tại vẫn còn tăm tối. Mở bài mẫu 5 Khi đọc truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, chắc hẳn người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng với hình ảnh của Liên – nhân vật chính của câu chuyện. Khi xây dựng nhân vật này, Thạch Lam muốn gửi gắm cách nhìn nhận cuộc sống cũng như bộc lộ lòng thương cảm cho những kiếp người nhỏ bé trong xã hội. Đăng bởi THPT Nguyễn Đình Chiểu Chuyên mục Tài Liệu Lớp 11 Nội dung cần có trong phần mở bài- Giới thiệu tác Giới thiệu nội dung khái quát của tác phẩm. Giới thiệu chi tiết về đoạn trích sẽ phân tích, cảm nhận nếu cớ.Mỗi tác giả tác phẩm đều có những thông tin khác nhau, nội dung, cảm xúc khác nhau vì vậy các em học sinh cần nắm được những thông tin cơ bản nhất về tác giả tác phẩm để đưa vào mỏ bài của mình sao cho phù hợp.>>> Tham khảoSơ đồ tư duy Viếng lăng BácĐề cương ôn tập Ngữ văn 9 học kì 2 bài Viếng lăng BácCác mẫu mở bài Viếng lăng Bác hay nhất mới cập nhậtMở bài phân tích Viếng lăng Bác - 20 mẫuMẫu 1Viễn Phương là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ. Đề tài trong thơ ông viết về vị lãnh tụ vĩ đại. Bài thơ “ Viếng lăng Bác” được sáng tác năm 1976 khi đất nước thống nhất, lăng Bác được khánh thành và tác giả được vào thăm lăng Bác. Bài thơ là cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng bác, khi vào trong lăng Bác và những cảm xúc dâng trào cùng những ước nguyện khi ra 2Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng đất nước ta. Người ra đi năm 1969, để lại biết bao nỗi thương nhớ và xót xa cho Tổ quốc. Có nhiều nhà thơ đã viết bài thơ tưởng nhớ về Bác và “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong những bài thơ xuất sắc nhất. Chúng ta hãy cùng đến với bài thơ để cảm nhận được cảm xúc 3Bác Hồ luôn là đề tài muôn thuở trong thơ ca của Việt Nam. Người là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà thơ, nhà văn thể hiện tài năng trong các tác phẩm của mình. Có thể nói, Bác chính là hình ảnh đẹp nhất, ngời sáng nhất trong thơ ca Việt Nam. Không ít tác phẩm viết về Người, viết về những cuộc viếng thăm, gặp gỡ Người, nhưng có lẽ, cảm xúc nhất trong những tác phẩm đó là “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ là nỗi niềm của một người con ở tận miền Nam xa xôi được trở ra thăm Bác sau ngày Bác đi xa.>>>Tham khảo Văn mẫu phân tích bài thơ Viếng lăng BácMẫu 4Nhắc đến nhà thơ Viễn Phương là nhắc đến một thi sĩ với hồn thơ nhẹ nhàng, man mác, bâng khuâng. Thơ ông lay động lòng người bởi sự tinh tế trong cách diễn đạt cảm xúc, hình ảnh thơ giản dị mà sâu sắc. Bài thơ Viếng lăng Bác là một bài thơ như thế, bằng tình cảm chân thành bình dị của một người con miền Nam, Viễn Phương đã viết nên những vần thơ thiết tha bày tỏ niềm thành kính và nỗi xúc động khi được ra thăm lăng 5Trong thơ ca ca ngợi về chủ tịch Hồ Chí Minh thì có rất nhiều những tác phẩm thơ hay và đặc sắc. Thế nhưng không phải bài thơ viết về Bác nào cũng có thể nói được những xúc cảm đến nghẹn ngào như trong bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn 6Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử thân yêu nhất của dân tộc Việt Nam. Người để lại hình ảnh một người Cha già hiền từ, một tên gọi Bác thân thiết, người hiện thân cho những gì cao đẹp và mạnh mẽ của dân tộc. Lăng Bác trở thành nơi lưu giữ bóng dáng Bác lúc sinh thời, nơi chiêm ngưỡng thành kính của nhân dân cả nước và bạn bè quốc 7Mỗi tác giả đều có những xúc cảm riêng khi viết về Hồ Chí Minh là xót xa, nuối tiếc, tự hào, ngưỡng mộ cho một đời người vì dân, vì nước. Nhà thơ Viễn Phương lần đầu tiên từ miền Nam ra thăm lăng Bác cũng đã giật mình nhận ra có những thay đổi trong chính cảm xúc của mình khi nhìn thấy Bác đang ngủ yên lành. Bài thơ “Viếng lăng Bác” là lòng thành kính, ngưỡng mộ, biết ơn của nhà thơ dành cho vị lãnh tụ vĩ 8Trong những bài thơ viết về Bác sau ngày Bác đi xa, “Viếng lăng Bác”của Viễn Phương là một bài thơ đặc sắc. Bài thơ diễn tả niềm kính yêu, sự xót xa và lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với vị lãnh tụ bằng cảm xúc chân thành, thiết tha, sâu 9Nhà thơ Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng Văn nghệ giải phóng miền Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Năm 1976, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội cũng vừa được khánh thành. Viễn Phương nhân dịp này ra thăm miền Bắc và vào lăng viếng Bác Hồ. Ông đã sáng tác bài thơ “Viếng lăng Bác” để bộc lộ lòng thành kính, biết ơn với chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt 10Đến với bài thơ “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương, người đọc sẽ thấy được tình cảm thành kính, yêu thương nhưng cũng đầy xót xa đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc Việt 11Bác đi xa là sự mất mát lớn của cả dân tộc, con người Việt Nam. Đã có rất nhiều tác phẩm thơ văn viết về Bác, về sự nghiệp cách mạng sáng ngời của Người, “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong những bài thơ hay nhất viết về Bác – vị cha già dân tộc. Bằng ngôn từ bình dị mà chứa chan cảm xúc, Viễn Phương đã thể hiện đầy tinh tế, xúc động nỗi lòng của người con miền Nam khi lần đầu được ra thăm lăng Bác, niềm kính yêu, trân trọng trước công lao trời bể, xót xa trước sự ra đi của Bác của Viễn Phương cũng chính là những tình cảm chung của hàng triệu con người Việt 12Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ dân tộc, con người vĩ đại nhất trong trái tim mỗi người Việt Nam. Hào quang về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người cũng là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà thơ, nhà văn “chấp bút” để viết lên những ca từ thật đẹp đẽ, thật xúc động. Chúng ta đã bắt gặp rất nhiều những áng thơ văn hay viết về Bác, đó là “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, là “Bác ơi” của Tố Hữu và ta cũng từng bồi hồi, xúc động khôn xiết trước cuộc viếng thăm đầy cảm xúc của nhà thơ người Nam Bộ Y Phương trong bài “Viếng lăng Bác”. Bài thơ là những cảm xúc chân thành mà tha thiết của một người con miền Nam lần đầu được ra thăm lăng Bác sau ngày Bác đi 13Viễn Phương là cây bút tiêu biểu có nhiều đóng góp cho nền văn học miền Nam hiện đại. Trong chiến tranh ông hướng ngòi bút của mình về cuộc chiến tranh, lên án sự bạo tàn của thế lực ngoại xâm, ca ngợi những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Sau giải phóng thơ ông tập trung bút lực vào cuộc sống, con người với những vần thơ giản dị mà tha thiết. Một trong những sáng tác nổi bật nhất làm nên tên tuổi của Viễn Phương trên văn đàn Việt Nam là “Viếng lăng Bác”, bài thơ được sáng tác năm 1976, trong nỗi xúc động khi được lần đầu ra thăm lăng Bác, nhà thơ đã thể hiện tình cảm kính yêu, sự biết ơn vô hạn của nhà thơ cũng như hàng triệu con người Việt Nam đối với chủ tịch Hồ Chí 14Một năm sau ngày giải phóng, nhà thơ Viễn Phương may mắn là một trong những người con miền Nam đầu tiên được ra thăm lăng Bác. Đứng trước lăng Bác, nhà thơ đã không giấu được sự xúc động, nghẹn ngào, bài thơ “Viếng lăng Bác” cũng được ra đời trong những cảm xúc dạt dào, tha thiết ấy. Viễn Phương viết “Viếng lăng Bác” bằng tất cả tình yêu, sự kính yêu, trân trọng, niềm tự hào và cả những xót xa của một người con đối với vị cha già dân tộc. Tình cảm kính yêu ấy còn được bộc lộ trong nguyện ước, khát vọng thật đẹp của nhà thơ ở cuối bài 15Mỗi tác giả đều có những xúc cảm riêng khi viết về Hồ Chí Minh, là xót xa, nuối tiếc, tự hào, ngưỡng mộ cho một đời người vì dân, vì nước. Nhà thơ Viễn Phương lần đầu tiên từ miền Nam ra thăm lăng Bác cũng đã giật mình nhận ra có những thay đổi trong chính cảm xúc của mình khi nhìn thấy Bác đang ngủ yên lành. Bài thơ “Viếng lăng Bác” là lòng thành kính, ngưỡng mộ, biết ơn của nhà thơ dành cho vị lãnh tụ vĩ 16Hồ Chí Minh – một người chủ tịch, một vị cha dân tộc Việt Nam.Bác ra đi năm 1969, để lại nỗi thương nhớ cho Tổ quốc. Có nhiều rấт nhiều nhà thơ viết bài tưởng nhớ về Bác, và “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương cũng Ɩà những bài thơ xuất sắc nhất .Mẫu 17“Viếng lăng Bác” là một trong những bài thơ đặc sắc nhất trong những bài viết về Bác. Bài thơ diễn tả niềm kính yêu, xót thương và biết ơn vô hạn của Viễn Phương. Bài thơ trích trong tập “Như mây mùa xuân” viết năm 1976, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa kết thúc, lăng chủ tịch vừa khánh thành , Viễn Phương ra thăm lăng 18 - Mở bài Viếng lăng Bác gián tiếp“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời”Tố HữuCó thể nói sự ra đi của vị lãnh tụ vĩ đại là một mất mát lớn đối với tất cả nhân dân Việt Nam. Có không ít những lời thơ thể hiện niềm thương xót xúc động trước sự ra đi của Bác. Tuy một năm sau ngày đất nước ta hoàn toàn thống nhất Viễn Phương mới có cơ hội ra thăm lăng Bác nhưng ông cũng không kìm nén được dòng cảm xúc của mình. Sự xót xa, thương nhớ ấy được tác giả bộc lộ qua bài thơ “Viếng lăng Bác”. Mở đầu bài thơ, Viễn Phương đã nêu lên hoàn cảnh mình ra thăm lăng BácMẫu 19 - mở bài gián tiếp dành cho học sinh giỏiCó một vầng dương thao thức cả cuộc đời vẫn canh cánh, trăn trở bên mình hai chữ “Đất nước”, có cái chết đã hóa thành bất tử trong sâu thẳm mỗi con tim“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưaĐời tuôn nước mắt trời tuôn mưa…”Người đã ra đi mãi mãi để lại bao niềm tiếc nuối cho dân tộc Việt Nam, trong cơn sụt sùi dầm dề chảy, trong dòng nước mắt nơi nhau lăn tròn cả cuộc đời. Để rồi bằng tất cả lòng thành kính vô bờ, trong niềm xúc động thiêng liêng ấy, Viễn Phương đã cho ra đời bài thơ “Viếng lăng Bác”. Bài thơ giống như một nén tàn nhang dâng lên Bác với một trái tim của người con miền Nam đong đầy nỗi thổn thức, nhớ mong dạt 20 - mở bài gián tiếp dành cho học sinh giỏiThời gian có thể phủ bụi dường như tất cả nhưng có những chân giá trị, những con người càng rời xa thời gian, càng sáng, càng đẹp. Đã gần nửa thế kỉ trôi qua, Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại cống hiến và hy sinh cả cuộc đời mình cho quốc gia, dân tộc – vẫn chiếm trọn tình cảm của mỗi người con Việt Nam. “Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị. Màu quê hương bền bỉ đậm đà. Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta…” Tố Hữu. Và một lần nữa, ta lại không khỏi bồi hồi trước những dòng thơ trong bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ chính là tấm lòng “tủy cốt chung tình” nhất không chỉ của tác giả, mà còn của toàn thể đồng bào đến Viễn Phương, Mai Văn Tạo có lần từng nhận xét “Thơ Viễn Phương nền nã, thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắc, cầu kỳ, kênh kiệu, khoa ngôn. Hình ảnh nào trong đời sống anh cũng tìm thấy chất thơ. Không đợi đến “Tiếng tù và trong sương đêm”, “Hoa lục bình trôi man mác tím, bông lau bát ngát nắng chiều” hay “Chòm xanh điên điển nhuộm vàng mặt nước”… Một mái lá khô hanh trong rừng vắng anh cũng đưa vào đấy cái thực, cái hư, rất thơ mà thực, rất thực mà thơ” Quả thật như vậy, các sáng tác của Viễn Phương đã thể hiện rất rõ điều có rất nhiều thi phẩm hay nhưng nổi bật nhất phải kể đến Viếng lăng Bác. Bài thơ được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1976 với những dòng cảm xúc chân thành, sâu sắc, niềm thành kính và biết ơn của nhà thơ cũng như toàn thể đồng bào miền Nam, của nhân dân toàn quốc dành cho người cha vĩ đại của dân tộc. Bởi lẽ đó, bài thơ cũng được coi như một nén tâm hương chân thành dâng lên bài cảm nhận bài thơ Viếng lăng Bác - 5 mẫuMẫu 1Viễn Phương quê ở An Giang . Một vùng đất trù phú thơ mộng mang vẻ đẹp hữu tình vạn vật quanh năm tươi tốt. Ông là 1 cây bút Nam bộ nổi tiếng có mặt sớm nhất ở lực lượng văn nghệ giải phóng miền nam thời kì chống mĩ cứu thơ Viếng Lăng Bác được coi là tác phẩm xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông .Bài thơ được sáng tác vào t4 -1976 sau khi cuộc kháng chiến chống mĩ kết thúc thăng lợi ,đất nước được giải phóng ,lăng chủ tịch vừa được khánh thành ,Viễn Phương ra Hà Nội và vào lăng viếng thơ đã thể hiện niềm thành kính cùng nỗi xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối với Bác hồ khi vào lăng viếng 2Bác Hồ từ lâu đã trở thành bao nguồn của hứng cho các thi sĩ sáng tác thơ ca. Lúc sinh thời Bác luôn nghĩ đến Miền Nam, ngày đêm thương nhớ miền Bác miền Nam là niềm vui, niềm hạnh phúc, là nỗi đau không lúc nào nguôi. “Miền nam trong trái tim tôi” niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền nam mau được giải phóng. Miền nam của ngày đêm thương nhớ Bác. Bằng cảm xúc chân thực, bằng ngôn ngữ gợi cảm, hình ảnh quen thuộc giàu chất tạo hình Viễn Phương đã thể hiện tấm lòng mình qua bài thơ “Viếng Lăng Bác”.Tham khảo Văn mẫu Cảm nhận bài thơ Viếng lăng BácMẫu 3“Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” - câu thơ này đã thể hiện tình cảm rất chân thành của nhân dân miền Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như bao người dân miền Nam khi vào thăm lăng Bác. Nhà thơ Viễn Phương đã thế hiện tấm lòng kính yêu tha thiết của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bài thơ Viếng lăng Bác. Tình cảm nhà thơ thể hiện trong bài theo em không chỉ là của riêng tác giả mà đó còn là tình cảm chung của tất cả nhân dân miền Nam đối với 4Trong chương trình ngữ văn lớp 9, bài thơ khiến em cảm thấy ấn tượng và dành nhiều tình cảm nhất đó là bài thơ “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Nhà thơ Viễn Phương có tên thật là Phan Thanh Viễn, ông sinh năm 1928 tại An Giang. Ông là nhà thơ với nhiều sáng tác ấn tượng và đi vào lòng bạn đọc. Bài thơ “Viếng lăng Bác” được ông viết năm 1976, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ông có dịp ra Hà Nội, đến viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ được in trong tập “Như mấy mùa xuân”. Bài thơ ca ngợi công ơn của Bác Hồ đồng thời thể hiện lòng thương tiếc, kính yêu và biết ơn trước Bác - niềm kính yêu vô 5Viết về Bác luôn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Riêng trong thơ, ta đã cảm nhận được ở Tố Hữu, Minh Huệ… và lần này thì ở Viễn Phương. Thơ Viễn Phương có một phong cách độc đáo vừa giàu chất liệu tâm trạng vừa giàu chất suy tưởng, vừa hiện thực vừa trữ tình, vừa hồn nhiên vừa mơ mộng… nghĩa là những cung bậc khác nhau, pha trộn vào nhau. Sự đa dạng này phản ánh tính phong phú của đối tượng được tái hiện ở trong thơ. Hồ Chí Minh vừa lớn lao vừa bình dị biết nhường nào. Vì thế, nhà thơ dường như không thể nào làm khác. Mạch cảm hứng toàn bài dựa trên trục thời gian hình thành một thứ nhật ký, một cuộc viếng thăm cũng là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn.>>> Tham khảo Văn mẫu Cảm nhận bài thơ Viếng lăng BácMở bài chung nghị luận văn học Viếng lăng Bác - 5 mẫuMẫu 1Con người ấy đã sống một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và đã đem lại mùa xuân trường cửu cho đất nước, cho dân tộc. Quả thật, Viễn Phương đã rất khéo trong việc chọn lựa giọng điệu, ngôn ngữ và hình ảnh để diễn tả sâu sắc niềm kính yêu, ngưỡng mộ đối với Bác. Trong khuôn khổ của bốn câu thơ trên, Viễn Phương đã hai lần sử dụng điệp từ "ngày ngày" "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng", "Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ". Hai câu thơ chí hai hiện tượng khác nhau một về thiên nhiên, một về đời sống, nhưng ý nghĩa lại tương đồng, ý tứ bó kết lại với nhau. Đó là tình cảm của nhân dân ta đối với Bác Hồ cũng tự nhiên, gần gũi như đất trời, vĩnh hằng như quy luật của vũ trụ. Khổ thơ thật hàm súc và giàu sức khái 2Bác Hồ là người có công rất lớn đối với đất nước và con người Việt Nam. Sự ra đi của Bác để lại niềm tiếc thương chung cho toàn nhân loại. Bao năm trời kể từ lúc Bác ra đi, đồng bào ta vẫn luôn nhớ về Bác với những tình cảm chân thành nhất. Để bày tỏ tình yêu thương với người, nhà thơ Viễn Phương đã sáng tác bài thơ Viếng lăng Bác nhân chuyến ra Hà Nội thăm lăng của 3 - Mở bài Viếng lăng Bác gián tiếpBác Hồ - vị lãnh đại vĩ đại, người cha già yêu thương của dân tộc Việt Nam. Hoàn thành tâm nguyện và sự nghiệp cả đời của mình- sự nghiệp cứu nước, năm 1946 Bác Hồ đã ra đi mãi mãi. Bác ra đi trong nỗi niềm tiếc thương của hàng vạn con dân Việt Nam“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưaĐời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”Tiếng khóc nghẹn ngào ấy vẫn cứ nỉ non, đau xót cho đến 7 năm sau, vang vọng trong những vần thơ của Viễn Phương. Sau một lần ra thăm lăng Bác, với nỗi tiếc thương khôn nguôi và lòng thành kính thiêng liêng, Viễn Phương đã sáng tác bài thơ Viếng Lăng 4Bác Hồ - vị cha già kính yêu của dân tộc. bác đã hi sinh cả cuộc đời của mình để bảo vệ và xây dựng tổ quốc khỏi tay của những kẻ xâm lăng. Bác mất đi đó chính là nỗi đau buồn của toàn dân tộc. Những người con từ khắp mọi nơi tới để cũng ở bên cạnh Bác, thăm Bác an nghỉ lẫn cuối cùng. Và trong chuyến đi thăm Lăng bác, nhà thơ Viễn Phương viết nên những vần thơ ấm đượm tình cảm thiêng liêng dành cho Bác- vị cha già kình yêu của dân 5Viễn Phương được biết là một nhà thơ hoạt động cách mạng từ sớm ở miền Nam. Chính sự gian khổ trong đấu tranh đã khiến vần thơ của ông dạt dào xúc cảm. Mỗi cảm xúc, suy tư con người đều được ông nắm trọn khoảnh khắc và thả hồn vào từng con khi thống nhất hai miền Nam Bắc, nhà thơ có dịp ra Bắc và ghé thăm lăng Bác. Từ đây, xúc cảm của người con miền Nam khi được gặp vị lãnh tụ dân tộc đã thôi thúc nhà thơ viết nên bài thơ bài cảm nhận khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác - 2 mẫuMẫu 1Ở khổ 1 bài thơ Viếng lăng Bác, tác giả giới thiệu hoàn cảnh Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, đồng thời bộc lộ tâm trạng dồn nén, xúc động, bởi đây là cuộc viếng thăm thiêng liêng, đầy ý nghĩa với cách xưng hô “Con – Bác”. Hình ảnh đầu tiên nhà thơ chú ý là hàng tre thân thuộc, kiên cường, bền bỉ, biểu trưng cho đất nước, cho dân tộc Việt NamMẫu 2Bài thơ Viếng lăng Bác mở đầu bằng câu thơ bộc bạch hoàn cảnh ra viếng lăng Bác của một người con miền Nam "Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác". Cách xưng hô "con-Bác" cho thấy sự gần gũi và kính trọng như của một người con đối với một người cha vĩ đại. Cách xưng hô này làm em liên tưởng đến những dòng bài phân tích khổ hai bài thơ Viếng lăng Bác - 3 mẫuMẫu 1Sinh thời Bác vẫn luôn nhớ tới miền Nam, ngày đêm thương nhớ nơi đây, Bác xem miền Nam là niềm vui, niềm hạnh phúc, cũng là nỗi đau mà không lúc nào nguôi, miền Nam luôn ở trong trái tim Bác. Niềm thiết tha mong mỏi của Bác là miền Nam nhanh được giải phóng, đất nước 2 miền sum họp để người có dịp được vào thăm miền Nam. Và miền Nam cũng thế, ngày đêm mong thương nhớ và mong Bác, muốn được gặp 2Có muôn ngàn lời thơ đã viết về Bác Hồ kính yêu với tấm lòng thành kính và yêu thương vô hạn. Những vần thơ của Viễn Phương cũng vậy, thơ ông dung dị và cảm xúc sâu lắng. Đặc biệt, ở khổ thứ hai bài thơ Viếng lăng Bác làm chúng ta lắng đọng với những vẫn thơ mộc 3Viễn Phương là nhà thơ gắn bó với cuộc sống chiến đấu của bà con quê hương trong hai cuộc kháng chiến Pháp và chống Mỹ. Thơ ông dung dị, cảm xúc sâu lắng. Ông có nhiều bài thơ đặc sắc, trong đó “Viếng lăng Bác” là bài thơ tiêu biểu. Đọc bài thơ, ta thấy lắng đọng nhất trong những dòng thơ“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân”>>> Tham khảo Những bài văn phân tích khổ thơ thứ 2 bài Viếng lăng BácNhững bài văn hay phân tích hai khổ thơ đầu bài Viếng lăng BácMở bài phân tích khổ 3 bài thơ Viếng lăng Bác - 3 mẫuMẫu 1Viếng lăng Bác là bài thơ kết tinh trọn vẹn cảm xúc của Viễn Phương khi ở miền Nam lần đầu được ra Hà Nội và vào lăng viếng Bác. Nếu hai khổ thơ đầu miêu tả dòng cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng Bác và khi hòa vào cùng dòng người vào lăng thì khổ thơ thứ ba lại thể hiện nỗi niềm xúc động thiêng liêng của nhà thơ khi vào lăng viếng 2 - Mở bài Viếng lăng Bác có trích dẫn thơKhổ thơ thứ ba là những cảm xúc của tác giả khi vào trong lăng, đứng trước di hài Bác. Bao tình cảm ấp ủ bấy lâu, nên khi bắt gặp bóng dáng thân yêu của Bác là trào dâng thổn thức. Hình ảnh Bác nằm trong lăng được diễn tả rất xúc động qua hai câu thơBác nằm trong lăng giấc ngủ bình yênGiữa một vầng trăng sáng dịu hiềnMẫu 3Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, vị cha già đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, sự ra đi của Bác là một sự mất mát to lớn của toàn thể dân tộc. Đã có rất nhiều vần thơ thể hiện lòng nhớ thương của những người con Việt Nam đối với Bác. Tuy là một bài thơ ra đời khá muộn, nhưng "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương vẫn để lại trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng, bởi đó là tình cảm của một người con miền Nam lần đầu được gặp Bác. Toàn bài thơ là một lời tâm sự thiết tha, là nỗi lòng thành kính và tha thiết của một người con miền Nam đối với Bác Hồ. Nhà thơ thể hiện tình cảm thiết tha của một người con miền Nam rõ rệt nhất ở trong khổ bài phân tích hai khổ cuối bài thơ Viếng lăng Bác - 3 mẫuMẫu 1Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Thơ Viễn Phương bình dị, đằm thắm mang đậm tính cách Nam Bộ. Tuy đến sau trong đề tài thơ về Bác do điều kiện, hoàn cảnh là người con miền Nam, cầm súng ở ngoài tiền tuyến… nhà thơ Viễn Phương đã để lại bài thơ “Viếng lăng Bác” độc đáo, có sức cảm hóa sâu sắc bởi tình ý đẹp, bởi lời hay. Đặc biệt ở hai thơ cuối thể hiện sâu sắc và cảm động tinh thần kính yêu lãnh tụ và ý nguyện muốn được dâng hiến đời mình bồi đắp thêm cho vẻ đẹp của đất 2“Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một bài văn xuất sắc được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình ghi lại tình cảm thành kính, sâu lắng của nhà thơ khi hòa vào dòng người đang vào viếng lăng Bác. Qua đó bài thơ được xem là tiếng nói nỗi niềm tâm sự của nhân dân dành cho Bác. Đặc biệt, những tình cảm ấy lại chan chứa và dạt vào ở hai khổ thơ 3Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, tác giả Viễn Phương có dịp ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bằng giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị mà cô đúc, bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. Hai khổ thơ cuối thể hiện sâu sắc tình cảm ấy của nhà thơ.>>>Xem thêm Văn mẫu Cảm nhận hai khổ cuối bài Viếng lăng BácMở bài phân tích khổ cuối bài thơ Viếng lăng Bác - 4 mẫuMẫu 1Khổ cuối khổ thơ thứ tư là cảm xúc của nhà thơ khi ra về. Nhà thơ lưu luyến muốn được ở mãi bên lăng Bác. Lòng nhớ thương, đau xót kìm nén đến giờ phút chia tay đã vỡ òa thành nước mắt “Mai về miền Nam thương trào nước mắt". Tình cảm chắp cánh cho ước mơ, nhà thơ muốn được hóa thân, hòa nhập vào cảnh vật ở bên lăng 2Trong bài thơ Viếng lăng Bác, nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện cảm xúc lưu luyến, bịn rịn đối với Bác - vị chủ tịch vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Thật vậy, nếu như những dòng thơ trên là nỗi đau buồn, thương nhớ của 1 người con miền Nam đối với Hồ Chủ tịch vĩ đại thì khổ thơ cuối đã thể hiện sự lưu luyến ko muốn rời xa đối với 3Mong mỏi bao nhiêu năm, nay mới có dịp ra thăm lăng Bác, nhà thơ chất chứa biết bao tâm sự và tình cảm mến yêu. Khoảnh khắc viếng thăm ngắn ngủi khiến nhà thơ vô cùng xúc động và luyến tiếc. Khổ thơ thứ tư diễn tả tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn được ở mãi bên lăng 4Bài thơ Viếng lăng Bác đã thể hiện nỗi niềm xúc động, lòng biết ơn sâu sắc của Viễn Phương - một nhà thơ miền Nam lần đầu ra Hà Nội và hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác. Cấu trúc của bài thơ như một hành trình miêu tả khoảnh khắc khi tác giả đứng trước lăng, khi xếp hàng và khi đứng trước di hài của Bác. Khổ thơ kết thúc bài thơ là một dấu lặng kết thúc hành trình ấy, bộc lộ niềm lưu luyến của Viễn Phương khi tạm biệt Bác trở về miền Nam.>>>Tham khảo Những bài văn hay phân tích khổ cuối bài Viếng lăng Bác-/-Với 45 mẫu mở bài Viếng lăng Bác trên, hi vọng các em có thể dựa vào đó để viết mở bài thật hay cho mình, giúp tạo cảm xúc tốt nhất cho người đọc phần nội dung toàn bài văn. Và tham khảo thêm nhiều hơn những bài văn mẫu 9 để mở rộng vốn từ, vốn kiến thức để mở rộng bài viết của mình hơn nữa thêmViếng lăng Bác là bài ca ân tình cảm động, đẹp đẽ của nhà thơ Viễn PhươngCảm nhận của em về hai khổ đầu bài thơ Viếng lăng BácPhân tích cảm xúc chân thành của tác giả qua khổ thơ trong bài Viếng lăng bácLòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc qua 2 khổ thơ cuối Viếng lăng BácCảm xúc lưu luyến, bịn rịn đối với Bác khi rời lăng của nhà thơ Viễn PhươngƯớc nguyện của Viễn Phương qua khổ cuối bài thơ Viếng lăng BácPhân tích hai khổ thơ đầu bài Viếng lăng BácSuy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn PhươngNghị luận bài thơ Viếng lăng Bác - Viễn PhươngSoạn bài Viếng lăng Bác Các bạn đang loay hoay không biết rằng mở bài như thế nào sẽ đạt giải cao ? Hình thức nội dung như thế nào sẽ lấy lòng các giám khảo chấm bài ? Mở bài gián tiếp trực tiếp sẽ ra sao, lối hành văn bay bổng độ nào để dễ dàng vượt qua mọi giới hạn đem đến cho người đọc những điều hay, lời đẹp, ý tốt, mở ra một thế giới văn chương cho họ. Để giải quyết và thực hiện nó, nếu bạn là người đam mê văn chương, muốn mở ra bước ngoặc cho cuộc đời của mình thì bạn hãy xem một số mở bài đạt giải cao dưới đây nhé Sự cứu rỗi của văn học1. Thơ là tình cảm, cảm xúc Âm điệu những vần thơ tự bao giờ đã ngân vang trong trái tim tôi. Là giọng ru ngọt ngào của mẹ, là câu thơ dậy lên màu xanh mướt của ruộng đồng, là tiếng ca lảnh lót của niềm yêu đời. Mỗi bài thơ mở ra một hình sắc riêng, một cảm xúc riêng về thế giới. “Từ đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về thơ là tình cảm nồng cháy mãnh liệt của ai đó.”Hay Biển cả nghìn năm không ngừng dào dạt sóng. Sóng biển có lúc êm đềm nhưng cũng có khi thét gào dữ dội. Tâm hồn con người cũng như biển vậy. Thi nhân xúc cảm trước cuộc đời mà viết nên thơ. Con sóng lòng tràn bờ, tràn trên con chữ thành thơ.”Từ đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về thơ là cảm xúc, tình cảm”.Hoặc Từ khi Ađam và Eva sinh ra trong khu vườn của chúa, con người đã có bao nỗi niềm cần gửi gắm. Kể từ khi con người cất lên tiếng gọi đầu tiên, đã có bao điều muốn tỏ bày. Sẻ chia cùng con người, thơ đến như một người bạn trải mình lắng nghe con người tâm sự. Tố Hữu từng nói ” Thơ chỉ bật ra khi cuộc sống đã đủ đầy”.2. Sức sống của một tác phẩm văn học Cuộc sống trôi đi, bốn mùa luân chuyển, sinh vật cứ bị cuốn trôi vào vòng xoay của tạo hóa. Sinh ra, tồn tại, rồi lại tan biến vào hư vô. Có chăng còn lại với đời chỉ là cái đẹp, phải thế chăng mà vượt qua bao sự băng hoại của thời gian, những tác phẩm văn học vẫn cháy lên một sức sống mãnh liệt với đời như thể để chứng minh một sự thiên vị của tạo hóa. “Từ đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về văn chương, sức sống còn neo đậu trong lòng người đọc”.Văn học là cuộc sốngHay ” Diệp phong một chiều lá cuốn Địa đàng rơi lệ tiếc thương Bình minh sau ngày khuất dấu Nhân sinh rực rỡ nào lâu? “Những câu thơ của Robert Frost vào những ngày chuyển thu như một lời thì thầm buộc con người phải suy ngẫm. Nó như một lời gợi nhắc về sự xoay chuyển, chênh vênh vô định của con người trong cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc. Thế nhưng đôi khi chính chúng ta lại vô tình lãng quên rằng vẻ đẹp thật sự của giá trị tâm hồn ấy đang nằm trong tay ta. Tâm hồn giống như một khúc nhạc, và khi được thể hiện qua ngôn từ, thì nó trở thành văn hương. Bởi vậy, khi những làn sóng từ cuộc đời nối tiếp nhau xô vào tâm hồn ta thì chính văn chương sẽ là cái đau xót, nhức nhối, hay cả những hài lòng, khon khoái cất lên từ sự va đập với những cái xấu xa của cuộc đời, khi thể hiện một tiếng nói của trái tim ấm nóng những kì vọng và khát khao vươn tới cái đẹp. Hay nói cách khác, văn học chân chính ngay cả khi nói cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm để thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện. Từ đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về văn học luôn hướng con người đến cái đẹp, cái thiện”.Hay Có một câu chuyện kể rằng Khi một tên trộm đánh cắp được chiếc va-li một người già có, hắn đã thấy trong đó một quyển truyện. Đọc xong quyển truyện ấy, cảm động với nhân vật trong truyện, ông đã trả lại cái va-li với một lời cảm ơn và đi đầu thú. Câu chuyện có phần hơi phóng đại nhưng cũng thể hiện rõ khả năng giáo dục của văn chương “nâng con người lên”.4. Tính nhân đạo trong văn chương Cuộc sống có bao điều ta nâng niu trân trọng. Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân dung vị thần công lí, người khác lại yêu cái sắc vòng rực rỡ như gói tâm tình của người nghệ sĩ trong mùa thu vàng của lê-vi-tan. Riêng tôi, tôi lại yêu những khám phá mới mẻ, những phát hiện sâu sắc đậm tính nhân đạo về con người qua mỗi tác phẩm nghệ đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về tính nhân đạo trong văn Phong cách của nhà văn Như cây đàn mất đi một dây, vườn hoa mất đi những bông hoa giàu hương sắc, như bầu trời thiếu vắng những vì sao, không có Huy-gô, Ban-dắc, Puskin hay Nguyễn Du, Nguyễn Tuân, Nam Cao… nền văn học của nhân loại sẽ trống trải biết nhường nào. Bởi lẽ những tác giả ấy thực sự đã tìm được”giọng nói riêng của mình”. Và đó chính là điều còn lại đối với mỗi nhà văn, điều làm nên vị trí của họ trong lòng người Ai đó từng nói rằng hoa hồng ở lai giữa cuộc đời nhờ hương thơm say đắm, không nồng nàn như hoa cúc hay ngọt ngào như ngọc lan; loài chim sơn tước ở lại giữa đời bởi tiếng hót thiết tha vút lên giauwx dàn đồng ca của rừng núi. Câu chuyện ấy gợi nhắc trong lòng người đọc nỗi băn khoăn“Có phải điều còn lại với mỗi nhà văn chính là giọng điệu của riêng mình”.Hoặc Có ai đó từng ví mỗi nhà văn như một loài hoa một thứ chim trong cánh rừng đại ngàn văn học. Mỗi loài hoa tỏa một hương thơm riêng cũng như mỗi thứ chim cất lên một giọng hót riêng. Mỗi nhà văn sẽ chỉ sống được trong lịch sử văn học, trong tâm hồn người đọc khi anh ta tạo ra được giọng hót, một hương thơm riêng của mình. Bởi lẽ điều còn lại đối với mỗi nhà văn, chính là giọng nói riêng của Thơ là ngôn từ Người Nhật tin rằng mọi sự vật trên đời này đều có linh hồn. Kể cả ngôn từ. Mình thì tin rằng, những gì kiến tạo bởi tình yêu thương thì có sức mạnh lớn lao để bao dung và sưởi ấm tâm hồn con người. Có những tác phẩm mà ngôn từ của nó được dệt nên từ niềm thương cảm và bao dung sâu sắc với thi nhân, khi ta đọc lên, từng câu từng chữ vang vọng dịu dàng ùa vào tâm trí, mơn man khắp tâm hồn, đánh thức những mảng màu băng giá trong trái tim và xoa dịu những vết thương ta mang trong đây bạn có thể liên hệ đến một câu nhận định về ngôn từ trong Văn học là cuộc đờiVăn học phải chăng cũng tựa bản nhạc mà nhạc sĩ Eđua Grigow viết tặng nàng Đanhi – điệu nhạc du dương rạo rực phập phồng hơi thở cuộc đời, như tiếng tù và vang vọng cảnh rừng thông, tiếng gió reo ca trong những dây buồm… nơi thành phố Becghen, quê hương nàng. Văn học là cuộc sống, là kết tinh muối mặn cuộc đời. Vậy phải chăng công việc của nhà văn nhất thiết chỉ cần đơn thuần dựa trên sự quan sát chính xác, không cần đến sáng tạo, tưởng tượng? Cũng như nhiều nhà văn khác, Maupassant hoàn toàn bác bỏ ý..Văn học là tấm gương phản chiếuVận mệnh đời người xoay vòng với những chọn lựa và quyết định. Mỗi một người khi đứng trước bất kì sự việc gì đều đặt vào trong những hoàn cảnh, những chuẩn mực của xã hội để đánh giá, xem xét. Con người có rất nhiều lúc muốn được sống. được chọn thật ” bản năng” như chính mình để vươn đến một chân trời mới. Nhưng cũng chính họ lại lo sợ, lại hoang mang, lo lắng vì mỗi ám ảnh…TÓM LẠI 1. THƠ LÀ TÌNH CẢM, CẢM XÚC2. SỨC SỐNG CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC3. VĂN HỌC VƯƠN ĐẾN CÁI CHÂN, THIỆN, MỸ4. TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG VĂN CHƯƠNG5. PHONG CÁCH CỦA NHÀ VĂN6. VĂN HỌC LÀ NGÔN TỪ7. VĂN HỌC LÀ CUỘC ĐỜI 547 views

mở bài hay nhất